Sứ đồ 19
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Trong khi A-bô-lô ở thành Cô-rinh-tô, Phao-lô đã đi khắp những miền trên, rồi xuống thành Ê-phê-sô, gặp một vài người môn đồ ở đó.
1I KA wa a Apolo i noho ai ma Korineto, kaahele o Paulo i na aina mauka, a hele aku la i Epeso; a loaa ia ia kekahi mau haumana,
2Người hỏi rằng: Từ khi anh em tin, có lãnh được Đức Thánh Linh chăng! Trả lời rằng: Chúng tôi cũng chưa nghe có Đức Thánh Linh nào. Người lại hỏi: Vậy thì anh em đã chịu phép báp-tem nào?
2I mai la ia lakou, Ua loaa anei ia oukou ka Uhane Hemolele i ko oukou manaoio ana? I aku la lakou ia ia, Aole makou i lohe no ka Uhane Hemolele.
3Trả lời rằng: Phép báp-tem của Giăng.
3I mai la kela ia lakou, I ke aha la oukou i bapetizoia'i? I aku la hoi lakou ia ia, I ka bapetizo a Ioane.
4Phao-lô bèn nói rằng: Giăng đã làm phép báp-tem về sự ăn năn tội, mà truyền dân phải tin Đấng sẽ đến sau mình, nghĩa là tin Đức Chúa Jêsus.
4I mai la o Paulo, Bapetizo mai la o Ioane i ka bapetizo ana o ka mihi, i ka i ana mai i kanaka, e manaoio aku lakou i ka mea e hiki mai ana mahope ona, o ka Mesia no ia, o Iesu no.
5Chúng nghe bấy nhiêu lời, bèn chịu phép báp-tem nhân danh Đức Chúa Jêsus.
5A lohe lakou, bapetizoia iho la lakou ma ka inoa o ka Haku, o Iesu.
6Sau khi Phao-lô đã đặt tay lên, thì có Đức Thánh Linh giáng trên chúng, cho nói tiếng ngoại quốc và lời tiên tri.
6A kau aku la o Paulo i na lima maluna iho o lakou, hiki mai la ka Uhane Hemolele maluna o lakou; a olelo ae la lakou ma ka olelo e, a wanana mai la.
7Cộng hết thảy độ mười hai người.
7A oia mau kanaka a pau, he umikumamalua lakou.
8Phao-lô vào nhà hội, và trong ba tháng giảng luận một cách dạn dĩ ở đó; giải bày những điều về nước Đức Chúa Trời mà khuyên dỗ các kẻ nghe mình.
8Hele mai la ia iloko o ka halehalawai, olelo wiwo ole mai la, ekolu malama ana i hooakaka ai, a i hoohuli mai ma na mea o ke aupuni o ke Akua.
9Song vì có mấy người cứng lòng, từ chối không tin, gièm chê đạo Chúa trước mặt dân chúng, thì người phân rẽ họ mà nhóm các môn đồ riêng ra, và dạy dỗ hằng ngày trong trường học Ti-ra-nu.
9A paakiki kekahi poe, a hoomaloka no hoi, olelo ino no lakou i keia aoao imua i ke alo o kanaka; alaila haalele oia ia lakou a hookaawale iho la i na haumana, a hoakaka mai la ia i kela la i keia la, maloko o ke kula o kahi Turano.
10Việc đó cứ luôn hai năm, đến nỗi mọi người ở trong cõi A-si, hoặc người Giu-đa hay là người Gờ-réc, đều nghe đạo Chúa.
10Ua hana mau ia keia mea i na makahiki elua; no ia mea, lohe ka poe a pau i noho ma Asia i ka olelo a ka Haku, a Iesu, o ka poe Iudaio a me ka poe Helene.
11Đức Chúa Trời lại dùng tay Phao-lô làm các phép lạ khác thường,
11Na ke Akua no i hana i na mea mana ano e, ma na lima o Paulo.
12đến nỗi người ta lấy khăn và áo đã bận vào mình người mà để trên các kẻ đau yếu; thì họ được lành bịnh, và được cứu khỏi quỉ dữ.
12No ia mea, laweia'ku la, mai kona kino aku, na hainaka a me na pale, no ka poe mai, a haalele iho la ka mai ia lakou, a puka aku la na uhane ino mailoko aku o lakou.
13Bấy giờ có mấy thầy trừ quỉ là người Giu-đa đi từ nơi nầy sang chỗ kia, mạo kêu danh Đức Chúa Jêsus trên những kẻ bị quỉ dữ ám, rằng: Ta nhân Đức Chúa Jêsus nầy, là Đấng mà Phao-lô giảng, để truyền khiến chúng bay.
13Hoao nae kekahi poe Iudaio, he poe kuewa mahiki daimonio, a hea aku la lakou i ka inoa o ka Haku o Iesu maluna o ka poe i loohia e na uhane ino, i aku la, Ma o Iesu la, ka mea a Paulo e hai mai nei, ke hookikina aku nei makou ia oukou.
14Các kẻ làm việc đó là bảy con trai của Sê-va, tức là một người trong bọn thầy tế lễ cả Giu-đa.
14Aia malaila kekahi mau keiki na Sekena, he Iudaio, a he kahuna nui, ehiku lakou i hana pela.
15Song quỉ dữ đáp lại rằng: Ta biết Đức Chúa Jêsus, và rõ Phao-lô là ai; nhưng các ngươi là kẻ nào?
15Olelo mai la ka uhane ino, i mai, Ua ike no wau ia Iesu, a ua ike no hoi au ia Paulo, aka hoi, owai oukou?
16Người bị quỉ dữ ám bèn sấn vào chúng, thắng được hai người trong bọn và hành hạ dữ lắm, đến nỗi phải trần truồng và bị thương, trốn ra khỏi nhà.
16A o ke kanaka maloko ona ua uhane ino la, lele mai la ia maluna o lakou, a lanakila iho la maluna o lakou, a hana ino mai la, a holo kohana aku la lakou mawaho o ia hale, ua eha hoi.
17Phàm người Giu-đa và người Gờ-réc nào ở tại thành Ê-phê-sô đều biết việc đó, thì sợ hãi, và danh Đức Chúa Jêsus được tôn trọng.
17Ua ikea iho la keia e na Iudaio a pau, a me ua Helene, e noho ana ma Epeso. A kau mai ka makau maluna o lakou a pau, a ua hoonuiia ka inoa o ka Haku o Iesu.
18Phần nhiều kẻ đã tin, đến xưng tội và tỏ ra việc mình đã làm.
18He nui na mea o ka poe manaoio i hele mai, a hai mai, a hoike mai i ka lakou mau hana.
19Có lắm người trước theo nghề phù phép đem sách vở mình đốt trước mặt thiên hạ; người ta tính giá sách đó, cộng là năm muôn đồng bạc.
19A he nui na mea o ka poe i hana kilokilo, i lawe mai i ka lakou mau buke, a puhi iho la i ke ahi imua o kanaka a pau; a helu lakou i ke kumukuai o ua mau buke la ke kuaiia, he kanalima tausani hapalua.
20Aáy vậy, nhờ quyền phép của Chúa, đạo bèn đồn ra, càng ngày càng được thắng.
20Pela i ulu ai me ka mana ka olelo a ka Haku, a lanakila iho la.
21Các việc đó rồi, Phao-lô toan đi ngang qua xứ Ma-xê-đoan và xứ A-chai, đặng đến thành Giê-ru-sa-lem. Người nói rằng: Khi ta đã thăm thành đó rồi, cũng phải thăm thành Rô-ma nữa.
21A pau keia mau mea i ka hanaia, manao iho la o Paulo ma ka uhane, e kaahele ma Makedonia a me Akaia, alaila, e hele i Ierusalema, i ae la, A hiki au ilaila, ma ia hope aku, pono ia'u ke ike ia Roma.
22Người bèn sai hai người giúp đỡ mình là Ti-mô-thê và Ê-rát sang xứ Ma-xê-đoan, song chính người còn ở lại trong cõi A-si ít lâu nữa.
22Hoouna aku la ia ma Makedonia i kekahi mau hoalawehana ona elua, o Timoteo laua me Eraseto; a noho iho la ia ma Asia a liuliu.
23Lúc đó, có sự loạn lớn sanh ra vì cớ đạo Tin Lành.
23Ia manawa, aole okana mai ka pioloke no keia aoao.
24Một người thợ bạc kia, tên là Đê-mê-triu, vốn dùng bạc làm khám nữ thần Đi-anh, sinh nhiều lợi cho thợ làm công,
24No ka mea, he kanaka, o Demeterio ka inoa, he kahuna hana kala e hana ana i na luakini kala no Diana, a nui loa iho la ka waiwai i loaa mai i ka poe paahana.
25bèn nhóm những thợ đó và kẻ đồng nghiệp lại, mà nói rằng: Hỡi bạn ta, các ngươi biết sự thạnh lợi chúng ta sanh bởi nghề nầy:
25Hoakoakoa ae la oia ia lakou, a me ka poe paahana ma ua mea me ia, i aku la, E na kanaka, ua ike no oukou, no keia hana i loaa mai ai ka kakou waiwai.
26các ngươi lại thấy và nghe nói, không những tại thành Ê-phê-sô thôi, gần suốt hết cõi A-si nữa, rằng tên Phao-lô nầy đã khuyên dỗ và trở lòng nhiều người, mà nói rằng các thần bởi tay người ta làm ra chẳng phải là chúa.
26Ua ike no hoi oukou, a ua lohe, aole ma Epeso wale no, aka, ma Asia a pau, o Paulo nei i hooikaika aku ai a i hoohuli i kanaka, he nui loa, me ka i ana ae, aohe akua na mea i hanaia e na lima.
27Chúng ta chẳng những sợ nghề nghiệp mình phải bị gièm chê, lại cũng e rằng đền thờ của đại nữ thần Đi-anh bị khinh dể nữa, và nữ thần ta bị tiêu diệt về sự vinh hiển mà cõi A-si cùng cả thế giới đều tôn kính chăng.
27No ia mea, aole ka kakou oihana wale no ke aneane lilo i mea ole; aka, o ka heiau o keia akua nui o Diana kekahi, e hoowahawahaia, a kokoke e pau i ke kahuliia ka nani o ka mea i hoomanaia'i e ko Asia a pau, a me ko ke ao nei.
28Chúng nghe bấy nhiêu lời, bèn nỗi giận lắm, cất tiếng kêu rằng: Lớn thay là nữ thần Đi-anh của người Ê-phê-sô!
28A lohe ae la lakou, piha iho la lakou i ka huhu, wawa aku la, i ae la, Nani ka mana o Diana o ko Epeso.
29Cả thành thảy đều rối loạn; chúng đồng lòng đến rạp hát, kéo theo mình Gai-út, A-ri-tạc, là người Ma-xê-đoan, bạn đồng đi với Phao-lô.
29Piha iho la ke kulanakauhale a pau i ka haunaele. Hopu aku la lakou ia Gaio, a me Arisetareko no Makedonia, he mau hoahele no Paulo, a holo lokahi aku la lakou i ka hale kiaka.
30Phao-lô muốn chính mình ra mặt trước dân chúng, nhưng môn đồ chẳng cho.
30Makemake iho la o Paulo e komo pu aku mawaena o na kanaka, aole nae na haumana i ae aku ia ia.
31Cũng có mấy quan lớn ở xứ A-si, là bạn hữu người, sai đến xin người chớ đi tới rạp hát.
31A o kekahi poe luna ma Asia, he poe makamaka nona, hoouna aku la lakou, kauoha ae la ia ia, aole hoike ia ia iho maloko o ka hale kiaka.
32Người thì reo lên thể nầy, kẻ thì la lên thể khác; vì trong hội om sòm, phần nhiều người cũng không biết vì cớ nào mình nhóm lại.
32Nolaila uwauwa ae la kekahi poe i kekahi mea a me kela poe i kela mea; no ka mea, ua mokuahana ua ahakanaka la; a o ka nui o lakou, aole lakou i ike i ka lakou mea i hoakoakoa'i.
33Chúng bèn kéo A-léc-xan-đơ từ trong đám đông ra, và người Giu-đa xô người ra đứng trước; người bèn lấy tay ra dấu, muốn nói cùng dân chúng để binh vực bọn mình.
33Hoeueu ae la lakou ia Alekanedero, noloko mai o ka lehulehu, na ka poe Iudaio ia i alakai mai. Peahi aku la o Alekanedero i ka lima, manao iho la ia e hoapono ia ia iho imua o na kanaka.
34Nhưng vừa khi đoàn dân nhận người là người Giu-đa, thì kêu rập lên ước trong hai giờ, rằng: Lớn thay là nữ thần Đi-anh của người Ê-phê-sô.
34A ike lakou he Iudaio ia, kahea aku la lakou me ka leo hookahi, a liuliu, elua no hora. Nani ka mana o Diana o ko Epeso.
35Bấy giờ, có người thơ ký thành phố dẹp yên đoàn dân, nói rằng: Hỡi người Ê-phê-sô, há có ai chẳng biết thành Ê-phê-sô là kẻ canh giữ đền thờ nữ thần lớn Đi-anh và tượng thần ấy đã từ trên trời giáng xuống sao?
35Hoolai iho la nae ke kakaolelo i ua ahakanaka la, i aku la, E na kanaka o Epeso nei, owai ke kanaka ike ole i ke kulanakauhale o Epeso nei he poe kakou e hoomaua ana ia Diana, i ka mea i haule no Iupita mai?
36Bởi điều đó thật chối cãi chẳng nỗi, nên các ngươi khá ở yên, đừng làm sự gì vội vã.
36No ka hiki ole i kekahi ke hoole i keia mau mea, he pono ia oukou e hoolai, aole hoi e hana wikiwiki.
37Vì những tên mà các ngươi đã kéo đến đây, chẳng phải mắc tội hoặc phạm đến của thánh, hay là lộng ngôn với nữ thần chúng ta đâu.
37Ua kai mai oukou i keia mau kanaka, aole lakou he poe hao heiau, aole hoi i olelo hoino i ko oukou akua.
38Vậy, nếu Đê-mê-triu và các thợ làm công ở với người có cần kiện cáo ai, thì đã có ngày xử đoán và quan trấn thủ; mặc họ kiện cáo nhau.
38No ia mea, ina i loaa ia Demeterio, a me ka poe paahana me ia, ka hala o kekahi, ua maopopo na la hookolokolo, a me na lunakanawai. E hoopii lakou kekahi i kekahi.
39Ví bằng các ngươi có nài việc khác nữa, thì khá quyết định việc đó trong hội đồng theo phép.
39Aka, ina imi oukou ma kekahi mea e, e hooponoponoia ia mea, ma ka ahakanaka ku i ke kanawai.
40Vì e cho chúng ta bị hạch về sự dấy loạn xảy ra ngày hôm nay, không thể tìm lẽ nào để binh vực sự nhóm họp nầy.
40No ka mea, e hoopiiia mai paha auanei kakou, no ka haunaele o keia la, aole hoi e hiki ia kakou ke hai aku i ka mea i akoakoa'i keia ahakanaka.
41Người nói bấy nhiêu lời, bèn cho chúng về.
41A i ka olelo ana i keia mea, hookuu aku la ia i ua ahakanaka la.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.