Sứ đồ 15
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Vả, có mấy người từ xứ Giu-đê đến, dạy các anh em rằng: Nếu các ngươi chẳng chịu phép cắt bì theo lễ Môi-se, thì không thể được cứu rỗi.
1A IHO mai la kekahi poe, mai Iudea mai ao mai la lakou i na hoahanau, Ina aole oukou e okipoepoeia, e like me ka aono o Mose, aole hiki ia oukou ke hoolaia.
2Nhân đó, có sự khác ý và cuộc cãi lẽ dữ dội giữa Phao-lô và Ba-na-ba với mấy người đó, người ta nhất định Phao-lô và Ba-na-ba với mấy người trong bọn kia đi lên thành Giê-ru-sa-lem, đến cùng các sứ đồ và trưởng lão đặng hỏi về việc nầy.
2Nui iho la ke kamailio ku e, a me ka hoopaapaa ana o lakou me Paulo laua me Barenaba. Manao iho la lakou e hele o Paulo, me Barenaba, a me kekahi poe o lakou, i Ierusalema, i na lunaolelo, a me na lunakahiko, no keia manao.
3Vậy, sau khi các người ấy được Hội thánh đưa đường rồi, thì trải qua xứ Phê-ni-xi và xứ Sa-ma-ri, thuật lại sự người ngoại trở về đạo, và như vậy làm cho anh em thay thảy được vui mừng lắm.
3Na ka ekalesia lakou i kai maikai aku, a kaahele lakou ma Poinike, a ma Samaria e hai mai ana i ka huli ana o ko na aina e; a hoolioli loa lakou i na hoahanau a pau.
4Vừa tới thành Giê-ru-sa-lem, được Hội thánh, các sứ đồ và trưởng lão tiếp rước, rồi thuật lại mọi điều Đức Chúa Trời đã cậy mình làm.
4A hiki lakou i Ierusalema, apo mai la ka ekalesia ia lakou, a me na lunaolelo, a me na lunakahiko, a hai aku la lakou i na mea a pau a ke Akua i hana mai ai mo lakou.
5Nhưng có mấy kẻ về đảng Pha-ri-si đã tin đạo, đứng dậy nói rằng phải làm phép cắt bì cho những người ngoại, và truyền họ phải tuân theo luật pháp Môi-se.
5Ku mai la kekahi poe i manaoio, noloko mai o ka aoao Parisaio, i mai la, Pono ke okipoepoe ia lakou, a e kauoha aku e malama i ke kanawai o Mose.
6Các sứ đồ và các trưởng lão bèn họp lại để xem xét về việc đó.
6Hoakoakoa mai la ka poe lunaolelo, a me na lunakahiko, e kukakuka i keia mea.
7Sau một cuộc bàn luận dài rồi, Phi-e-rơ đứng dậy nói cùng chúng rằng: Hỡi anh em, hãy biết rằng từ lúc ban đầu, Đức Chúa Trời đã chọn tôi trong các anh em, để cho người ngoại được nghe Tin Lành bởi miệng tôi và tin theo.
7Nui loa iho la ka hoopaapaa, alaila, ku mai la o Petero, i mai la ia lakou, E na kanaka, na hoahanau, ua ike no oukou i na la mamua, wau no ko kakou mea a ke Akua i wae ai, i lohe ko na aina e i ka olelo maikai ma ko'u waha, a e manaoio mai.
8Đức Chúa Trời là Đấng biết lòng người, đã làm chứng cho người ngoại, mà ban Đức Thánh Linh cho họ cũng như cho chúng ta;
8A na ke Akua, ka mea i ike i ka naau, i koike mai no lakou, e haawi ana ia lakou i ka Uhaue Hemolele, me ia ia kakou.
9Ngài chẳng phân biệt chúng ta với người ngoại đâu, vì đã lấy đức tin khiến cho lòng họ tinh sạch.
9Aole ia i hookaawale iki mawaena o kakou a me lakou, hoomaemae no ia i ko lakou naau i ka manaoio ana.
10Vậy bây giờ, cớ sao anh em thử Đức Chúa Trời, gán cho môn đồ một cái ách mà tổ phụ chúng ta hoặc chính chúng ta cũng chưa từng mang nổi?
10No ia mea la ea, no ke aha la oukou e hoao aku nei i ke Akua e kau mai maluna o ka ai o na haumana i ka auamo hiki ole ia kakon a me ko kakou poe kupuna, ke amo?
11Trái lại, chúng ta tin rằng nhờ ơn Đức Chúa Jêsus, chúng ta được cứu cũng như người ngoại vậy.
11Ke manaoio nei no hoi kakou, e hoolaia'i kakou i ka lokomaikai mai o ka Haku, o Iesu e like me lakou.
12Cả hội đồng đều lẳng lặng, nghe Ba-na-ba và Phao-lô thuật lại những phép lạ dấu kỳ mà Đức Chúa Trời đã cậy mình làm ra giữa người ngoại.
12Alaila noho malie ua ahakanaka la n pau, hoolohe aku la ia Barenaba laua me Paulo, i ko laua hai ana i na hoailona mana, a me na mea kupanaha a ke Akua i hana mai ai ma o laua la iwaena o ko na aina e.
13Nói xong, Gia-cơ cất tiếng lên rằng: Hỡi anh em, hãy nghe tôi!
13Mahope iho i ko laua oki ana alaila olelo mai la o Iakobo, i mai la, E na kanaka, na hoahanau, e hoolohe mai ia'u:
14Si-môn có thuật thế nào lần thứ nhất, Đức Chúa Trời đã đoái thương người ngoại, đặng từ đó lấy ra một dân để dâng cho danh Ngài.
14Ua hai mai noi o Simeona i ko ke Akua holo ana mai mamua aku nei e ike i ko na aina e, e lawe mai i kekahi poe kanaka no kona inoa, mailoko mai o lakou.
15Điều đó phù hiệp với lời các đấng tiên tri, vì có chép rằng:
15Ua pili no hoi ka olelo a na kaula i keia mea: penei ka palapala ana,
16Rồi đó, ta sẽ trở lại, Dựng lại đền tạm của vua Đa-vít bị đổ nát; Ta sẽ sửa sự hư nát đền đó lại Mà gây dựng lên;
16A mahope iho, e hoi hou mai au, a e kukulu hou ae i ka halelewa o Davida i hiolo; a e hookuikui hou au i na mea hina, a e kukulu hou ia;
17Hầu cho những người sót lại Và mọi dân cầu khẩn danh ta đều tìm Chúa. Chúa là Đấng làm nên những việc nầy có phán như vậy;
17I imi ai hoi na mea i koe o kanaka i ka Haku, a me ko na aina e a pau, ka poe i heaia ko'u inoa maluna o lakou, wahi a ka Haku, nana i hana keia mau mea.
18từ trước vô cùng Ngài đã thông biết những việc đó.
18Mai kinohi mai ua ikeia no e ke Akua kana hana ana a pau.
19Vậy, theo ý tôi, thật chẳng nên khuấy rối những người ngoại trở về cùng Đức Chúa Trời;
19Nolaila hoi, ke manao aku nei au, aole e hookaumaha i ko na aina e i hoohuliia mai i ke Akua:
20song khá viết thơ dặn họ kiêng giữ cho khỏi sự ô uế của thần tượng, sự tà dâm, sự ăn thịt thú vật chết ngột và huyết.
20E palapala aku no nae kakou ia lakou, e hookaaokoa lakou i na mea haumia o na kii, a me ka moe kolohe, a me na mea umi wale ia, a me ke koko.
21Vì trải bao nhiêu đời nay, trong mỗi thành vẫn có người giảng luật pháp Môi-se, bởi mọi ngày Sa-bát, trong các nhà hội người ta có đọc luật ấy.
21No ka mea, he poe no ko Mose, mai ka wa kahiko mai, ma na kulanakauhale a pau, nana e ao aku ma kana, na heluheluia no hoi kana maloko o na halehalawai, i na la Sabati a pau.
22Kế đó, các sứ đồ và trưởng lão cùng cả Hội thánh bèn quyết định sai những người được chọn ở nơi mình đi với Phao-lô và Ba-na-ba đến thành An-ti-ốt. Aáy là Giu-đe, cũng gọi là Ba-sa-ba, và Si-la, là hai người đứng đầu trong hàng anh em;
22Alaila manao iho la na lunaolelo, a me ua lunakahiko, a me ka ekalesia a pau, he mea pono ke hoouna aku me Paulo laua o Barenaba, i mau kanaka i waeia, mailoko mai o lakou, i Anetioka, o Iuda i kapaia o Baresaba, a me Sila, he mau kanaka koikoi laua mawaena o na hoahanau.
23rồi giao cho hai người bức thơ như sau nầy: Các sứ đồ, trưởng lão và anh em gởi lời chào thăm anh em trong những người ngoại tại thành An-ti-ốt, trong xứ Sy-ri và xứ Si-li-si!
23Palapala aku la lakou, ma ko lakou lima, penei: Ke aloha aku nei na lunaolelo, a me na lunakahiko, a me na hoahanau, i na hoahanau o na lahuikanaka e ma Anetioka, a ma Suria, a ma Kilikia;
24Bởi từng nghe có một vài người trong vòng chúng ta, chẳng lãnh mạng lịnh nào nơi chúng ta, tự lấy lời mình khuấy rối, và biến loạn lòng các ngươi nữa,
24No ka mea, ua lohe makou i kekahi poe hele aku, mai o makou aku, ua hoohihia ia oukou i na olelo, me ka hoohuli e ana i ko oukou uhane, i ka i ana ae, E okipoepoeia oukou, a e malama i ke kanawai; aole makou i kauoha aku ia lakou pela.
25nên chúng ta đồng lòng quyết ý chọn những người thay mặt sai đi cùng kẻ rất yêu dấu của chúng ta là Ba-na-ba và Phao-lô, mà đến nơi các ngươi;
25I ko makou akoakoa lokahi ana, manao makou, he mea maikai ke hoouna aku ia oukou i kekahi mau kanaka i kohoia, i hele pu me ka makou mau mea i alohaia, me Barenaba lana o Paulo.
26hai người nầy vốn đã liều thân vì danh Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa chúng ta.
26Ua haawi ia mau kanaka i ko laua ola no ka inoa o ko kakou Haku o Iesu Kristo.
27Vậy chúng ta đã sai Giu-đe và Si-la đến, để nói miệng với anh em về việc đó:
27Nolaila, ua hoouna no hoi makou ia Iuda, laua me Sila, a na laua no e hai ana aku ma ka olelo i keia mau mea hookahi no.
28ấy là Đức Thánh Linh và chúng ta đã ưng rằng chẳng gán gánh nặng nào khác cho anh em ngoài những điều cần dùng,
28No ka mea, ua manao ka Uhane Hemolele a me makou no hoi, aole e kau maluna o oukou, i kekahi mea kaumaha nui aku; o keia mau mea e pono ai wale no;
29tức là anh em phải kiêng ăn của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngột, và chớ tà dâm; ấy là mọi điều mà anh em khá kiêng giữ lấy vậy. Kính chúc bình an!
29E hookaaokoa i ka io i mohaiia no na kii, a me ke koko, a me na mea i umi wale ia, a mo ka moe kolohe. Ina e pili ole oukou ia mau mea, ua hana maikai oukou. Aloha oukou.
30Vậy, khi các người đó đã từ giã Hội thánh, xuống thành An-ti-ốt, nhóm hết thảy anh em lại, và trao thơ cho.
30A kuuia mai la lakou, hele lakou i Anetioka; a hoakoakoa iho la lakou i ka ahakanaka, haawi aku la lakou i ua palapala la.
31Người ta đọc thơ, thảy đều mừng rỡ vì được lời yên ủi.
31A i ko lakou heluhelu ana, olioli lakou no ka olelo hoolana.
32Giu-đe và Si-la chính là kẻ tiên tri, cũng lấy nhiều lời giảng mà khuyên bảo, và giục lòng anh em mạnh mẽ.
32He mau kaula no hoi o Iuda laua me Sila, a hooikaika aku la iaua i na hoahanau, me na olelo he nui loa, a hookupaa iho la ia lakou.
33Khỏi ít lâu, anh em chúc các người đó bình an mà cho về cùng những người đã sai đến.
33Noho iho la lakou i kokahi wa, kuu maikai ia'ku la lakou, mai na hoahanau aku, i hele aku i na lunaolelo.
34Nhưng mà Si-la thì quyết ở lại thành An-ti-ốt.
34Ua maikai no hoi i ko Sila manao e noho malaila.
35Nhưng Phao-lô và Ba-na-ba ở lại tại thành An-ti-ốt, giảng Tin Lành và dạy đạo Chúa với nhiều người khác.
35A o Paulo laua o Barenaba, a me kekahi poe nui e ae, noho no lakou ma Anetioka, o ao ana, a e hai ana i ka olelo a ka Haku.
36Sau ít lâu, Phao-lô nói với Ba-na-ba rằng: Chúng ta hãy trở lại thăm hết thảy anh em trong các thành mà chúng ta trước đã giảng đạo Chúa, xem thử ra thể nào.
36A hala kekahi mau la, i mai la o Paulo ia Barenaba, E hele hon kaua o ike i ko kaua mau hoahanau ma na kulanakauhale a pau a kaua i hai aku ai i ka olelo a ka Haku, pehea i noho la.
37Ba-na-ba muốn đem theo Giăng cũng gọi là Mác.
37Manao paa iho la o Barenaba, e lawe pu aku ia Ieane i kapaia o Mareko.
38Nhưng Phao-lô không có ý đem Mác đi với, vì người đã lìa hai người trong xứ Bam-phi-ly, chẳng cùng đi làm việc với.
38Aole nae i makemake o Paulo, e lawe pu i ka mea i haalele mai ia laua ma Pamepulia, a hele pu ole akai me laua i ka hana.
39Nhân đó có sự cãi lẫy nhau dữ dội, đến nỗi hai người phân rẽ nhau, và Ba-na-ba đem Mác cùng xuống thuyền vượt qua đảo Chíp-rơ.
39Nolaila, hoopaapaa ikaika ae la laua, a hookaawale iho la kekahi I kekahi; lawe pu aku la o Barenaba ia Mareko, a holo aku la i Kupero.
40Còn Phao-lô sau khi đã chọn Si-la, và nhờ anh em giao phó mình cho ân điển Chúa, thì khởi đi.
40Koho aku la o Paulo ia Sila, a hele aku la, me ka haawiia i ka lokomaikai o ko Akua e na hoahanau.
41Người trải qua xứ Sy-ri và xứ Si-li-si, làm cho các Hội thánh được vững bền.
41Hele aku la i Suria, a me Kilikia, e hookupaa aku ana i na ekalesia.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.