Sứ đồ 8
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Sau-lơ vốn ưng thuận về sự Ê-tiên bị giết. Trong lúc đó, Hội thánh ở thành Giê-ru-sa-lem gặp cơn bắt bớ dữ tợn; trừ ra các sứ đồ, còn hết thảy tín đồ đều phải chạy tan lạc trong các miền Giu-đê và xứ Sa-ma-ri.
1Anih duekhaih to Saul mah doeh palungdue haih. To nathuem ah Jerusalem ah kaom kricanawk loe paroeai pacaekthlaekhaih to tongh o; to pongah patoeh ih kaminawk khue ai ah loe, kaminawk boih Judea hoi Samaria prae ah cawnh o.
2Dầu vậy, có mấy người tin kính chôn xác Ê-tiên và than khóc người quá bội.
2Sithaw khae angpaek kaminawk mah Stephen ih qok to lak o moe, aphum o, anih to paroeai palungset o haih.
3Nhưng Sau-lơ làm tàn hại Hội thánh: sấn vào các nhà, dùng sức mạnh bắt đàn ông đàn bà mà bỏ tù.
3Saul mah kricabu to phraek, im kruekah akun, nongpa hoi nongpatanawk to a naeh moe, thongim ah pakhrak.
4Vậy, những kẻ đã bị tan lạc đi từ nơi nầy đến nơi khác, truyền giảng đạo Tin Lành.
4To pongah kacawn kaminawk phakhaih ahmuen kruekah tamthanglok to taphong o.
5Phi-líp cũng vậy, xuống trong thành Sa-ma-ri mà giảng về Đấng Christ tại đó.
5Philip loe Samaria vangpui ah caeh tathuk moe, to ih kaminawk khaeah Kri kawng to a thuih.
6Đoàn dân nghe người giảng và thấy các phép lạ người làm, thì đồng lòng lắng tai nghe người nói;
6Toah kaom kaminawk loe Philip mah thuih ih lok to palung paekhaih hoiah tahngaih pae o, a sak ih dawnrai hmuennawk doeh a hnuk o.
7vì có những tà ma kêu lớn tiếng lên mà ra khỏi nhiều kẻ bị ám, cùng kẻ bại và què được chữa lành cũng nhiều.
7Kaciim ai pakhranawk loe, tha hoi hang o moe, taqawk tawn kaminawk ih takoh thung hoiah tacawt o: pop parai angtawt thai ai kaminawk hoi khokkhaem kaminawk ngantui o.
8Tại cớ đó, trong thành được vui mừng khôn xiết.
8To pongah to avang ih kaminawk loe paroeai anghoehaih tawnh o.
9Bấy giờ trong thành đó có một người tên là Si-môn, làm nghề phù phép, tự khoe mình là một người danh tiếng, khiến cho dân Sa-ma-ri rất lấy làm lạ lùng.
9To avang ah kaom Simon, tiah kawk ih kami maeto loe angmah hoi angmah to lensawk kami ah amkoeh moe, miklet patohhaih hoiah Samaria kaminawk hma ah dawnrai hmuen to a sak:
10Hết thảy từ trẻ đến già đều nghe theo người, mà nói rằng: Chính người là quyền phép của Đức Chúa Trời, tức là quyền phép lớn như thường gọi vậy.
10kathoeng hoi kalen koek kaminawk mah, Hae kami loe kalen koek Sithaw thacakhaih to tawnh, tiah thuih o moe, anih ih lok to tahngaih pae o.
11Nhân đó chúng nghe theo người, vì đã lâu nay người lấy phù phép giục họ thảy đều phải khen lạ.
11Anih mah to ih kaminawk dawnraisak hanah miklet hoiah saning kasawkah doi boeh pongah, nihcae mah Simon ih lok to tahngaih pae o.
12Nhưng khi chúng đã tin Phi-líp, là người rao giảng Tin Lành của nước Đức Chúa Trời và danh Đức Chúa Jêsus Christ cho mình, thì cả đàn ông, đàn bà đều chịu phép báp-tem.
12Toe Philip mah Sithaw ukhaih prae kawng hoi Jesu Kri ih ahmin to taphong naah loe, nihcae mah tang o moe, nongpa nongpata tih ai tuinuemhaih to hnuk o.
13Chính Si-môn cũng tin, và khi đã chịu phép báp-tem, thì ở luôn với Phi-líp; người thấy những dấu lạ phép kỳ đã làm ra, thì lấy làm lạ lắm.
13Simon angmah doeh tanghaih tawnh moe, tuinuemhaih to hnuk: Philip mah sak ih dawnrai hmuen hoi angmathaihnawk to a hnuk naah, dawnrai moe, Philip hnukah a bang.
14Các sứ đồ vẫn ở tại thành Giê-ru-sa-lem, nghe tin xứ Sa-ma-ri đã nhận lấy đạo Đức Chúa Trời, bèn sai Phi-e-rơ và Giăng đến đó.
14Jerusalem ah kaom patoeh ih kaminawk mah Samaria kaminawk loe Sithaw lok tang o boeh ti, tiah thaih o naah, Piter hoi Johan to nihcae khaeah patoeh o:
15Hai người tới nơi, cầu nguyện cho các môn đồ mới, để cho được nhận lấy Đức Thánh Linh.
15nihcae mah Kacai Muithla hnuk o thai hanah, to ahmuen ah a caeh hoi tathuk moe, nihcae han lawkthuih pae hoi:
16Vì Đức Thánh Linh chưa giáng xuống trên một ai trong bọn đó; họ chỉ nhân danh Đức Chúa Jêsus mà chịu phép báp-tem thôi.
16(nihcae loe Jesu ih ahmin khue hoiah ni tuinuemhaih to hnuk o vop pongah, Kacai Muithla nihcae nuiah krah ai vop.)
17Phi-e-rơ và Giăng bèn đặt tay trên các môn đồ, thì đều được nhận lấy Đức Thánh Linh.
17Piter hoi Johan mah nihcae nuiah ban koeng moe, lawkthuih pae hoi naah loe, nihcae mah Kacai Muithla to talawk o.
18Si-môn thấy bởi các sứ đồ đặt tay lên thì có ban Đức Thánh Linh xuống, bèn lấy bạc dâng cho, mà nói rằng:
18Patoeh ih kaminawk mah ban koeng naah Kacai Muithla hnuk o ti, tiah Simon mah hnuk naah, nihnik hanah phoisa a paek,
19Cũng hãy cho tôi quyền phép ấy, để tôi đặt tay trên ai thì nấy được nhận lấy Đức Thánh Linh.
19ban ka koeng pae ih kaminawk mah, Kacai Muithla hnuk o thai hanah, hae sakthaihaih tha hae kai hanah doeh na paek hoi toeng ah, tiah a naa.
20Nhưng Phi-e-rơ trả lời rằng: Tiền bạc ngươi hãy hư mất với ngươi, vì ngươi tưởng lấy tiền bạc mua được sự ban cho của Đức Chúa Trời!
20Toe Piter mah anih khaeah, Sithaw ih tangqum to phoisa hoi qan han na poek pongah, phoisa hoi nawnto nang hmaa hoi hmaek tih, tiah a naa.
21Ngươi chẳng có phần hoặc số trong việc nầy; vì lòng ngươi chẳng ngay thẳng trước mặt Đức Chúa Trời.
21Sithaw hmaa ah na poekhaih toeng ai pongah, hae toksakhaih nuiah na thum han koi tidoeh na tawn mak ai, tiah a naa.
22Vậy, hãy ăn năn điều ác mình, và cầu nguyện Chúa, hầu cho ý tưởng của lòng ngươi đó họa may được tha cho.
22Hae na poek pazaehaih hmuen nuiah dawnpakhuem ah loe, Angraeng khaeah lawkthui ah, to tih nahaeloe palung thung hoi na poek pazaehaih to na tahmen pae khoe doeh om tih.
23Vì ta thấy ngươi đang ở trong mật đắng và trong xiềng tội ác.
23Nang loe kakhaa tui to na naek moe, zae mah taoenghaih thung hoiah na loih ai vop, tito ka panoek, tiah a naa.
24Si-môn trả lời rằng: Xin chính mình các ông hãy cầu nguyện Chúa cho tôi, hầu cho tôi chẳng mắc phải điều ông nói đó.
24To naah Simon mah, Na thuih hoi ih hmuennawk ka nuiah phak han ai ah, Angraeng khaeah lawk na thui pae hoih, tiah a naa.
25Sau khi Phi-e-rơ và Giăng đã làm chứng và giảng đạo Chúa như thế, thì trở về thành Giê-ru-sa-lem, vừa đi vừa giảng Tin Lành trong nhiều làng của người Sa-ma-ri.
25Peter hoi Johan loe Angraeng ih lok to taphong hoi, to tiah lokthuih hoi pacoengah Jerusalem ah amlaem hoi; paroeai Samaria avangnawk ah doeh kahoih tamthanglok to taphong hoi.
26Bấy giờ, có một thiên sứ của Chúa phán cùng Phi-líp rằng: Hãy chờ dậy đi qua phía nam, trên con đường từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Ga-xa. Đường ấy vắng vẻ.
26Angraeng ih van kami mah Philip khaeah, Angthawk ah loe, Jerusalem hoi Gaza bang caeh tathukhaih praezaek loklam aloih bangah caeh ah, tiah a naa.
27Người chờ dậy và đi. Kìa, có một hoạn quan Ê-thi-ô-bi, làm quan hầu của Can-đác, nữ vương nước Ê-thi-ô-bi, coi sóc hết cả kho tàng bà, đã đến thành Giê-ru-sa-lem để thờ phượng,
27To pongah anih loe angthawk moe, a caeh: khenah, Ethiopia siangpahrang nongpata Kandace ukhaih tlim ah toksah, paroeai akaa tawn hmuenmae pakuemkung, tangyat dueh kami maeto loe Sithaw bok hanah Jerusalem ah caeh,
28khi trở về, ngồi trên xe mà đọc sách tiên tri Ê-sai.
28anih im ah amlaem naah, angmah ih hrang mawtaka nuiah angthueng moe, tahmaa Isaiah mah tarik ih Cabu to a kroek.
29Đức Thánh Linh phán cùng Phi-líp rằng: Hãy lại gần và theo kịp xe đó.
29Muithla mah Philip khaeah, Anih hoi kanghnai ah caeh ah loe, to hrang mawtaka to patom ah, tiah a naa.
30Phi-líp chạy đến, nghe người Ê-thi-ô-bi đọc sách tiên tri Ê-sai, thì nói rằng: Oâng hiểu lời mình đọc đó chăng?
30Philip loe anih khaeah cawnh, anih mah kroek ih tahmaa Isaiah ih Cabu lok to thaih naah, Na kroek ih lok to na thaikop maw? tiah a dueng.
31Hoạn quan trả lời rằng: Nếu chẳng ai dạy cho tôi, thể nào tôi hiểu được? Người bèn mời Phi-líp lên xe ngồi kề bên.
31Anih mah, Mi mah doeh patukhaih om ai ah kawbangmaw ka panoek thai tih? tiah a naa. To pongah anih loe hrang mawtaka nuiah angthueng moe, anih hoi nawnto anghnut hanah Philip to kawk.
32Vả, chỗ người đọc trong Kinh Thánh là đoạn nầy: Người đã bị kéo đi như con chiên đến hàng làm thịt, Lại như chiên con câm trước mặt kẻ hớt lông, Người chẳng mở miệng.
32To kami mah kroek ih Cabu loe, Boh han kaom tuu baktiah Anih to hoih o; Anih loe angmah ih amui aat kami hma ah kaom duem tuucaa baktiah pakha aang ai:
33Trong khi người hèn hạ thì sự đoán xét Người đã bị cất đi. Còn ai sẽ kể đời của Người? Vì sự sống Người đã bị rút khỏi đất rồi.
33anih loe azat kaom ah lokcaek o, toenghaih hoiah lokcaek o ai: a hinghaih long hoiah lak pae o ving pongah, anih loe kawbangmaw acaeng tawn thai tih? tiah oh.
34Hoạn quan cất tiếng nói cùng Phi-líp rằng: Tôi xin hỏi ông, đấng tiên tri đã nói điều đó về ai? Có phải nói về chính mình người chăng, hay là về người nào khác?
34Tangyat dueh kami mah, Tahmaa mah mi kawng maw thuih? Angmah kawng maw, to tih ai boeh loe kalah kami kawng, na thui ah? tiah a dueng.
35Phi-líp bèn mở miệng, bắt đầu từ chỗ Kinh Thánh đó mà rao giảng Đức Chúa Jêsus cho người.
35To naah Philip mah, To Cabu thung ih lok hoi Jesu kawng to anih khaeah thuih pae.
36Hai người đang đi dọc đường, gặp chỗ có nước, hoạn quan nói rằng: Nầy, nước đây, có sự gì ngăn cấm tôi chịu phép báp-tem chăng?
36Loklam a caeh hoi li naah, tui ohhaih ahmuen to a phak hoi: tangyat dueh kami mah, khenah, haeah tui oh; tuinuemhaih ka hnuk hanah mi mah maw pakaa thai tih? tiah a naa.
37Phi-líp nói: Nếu ông hết lòng tin, điều đó có thể được. Hoạn quan trả lời rằng: Tôi tin rằng Đức Chúa Jêsus Christ là Con Đức Chúa Trời.
37Philip mah, Na palungthin boih hoi na tang nahaeloe, tuinuemhaih na hnu thai tih, tiah a naa. Anih mah, Jesu loe Sithaw Capa ni, tiah ka tang, tiah a naa.
38Người biểu dừng xe lại; rồi cả hai đều xuống nước, và Phi-líp làm phép báp-tem cho hoạn quan.
38To pongah anih mah hrang mawtaka to angdoetsak: Philip hoi tangyat dueh kami loe tui ohhaih ahmuen ah caeh hoi tathuk moe, Philip mah anih to tuinuemhaih paek.
39Khi ở dưới nước lên, thì Thánh Linh của Chúa đem Phi-líp đi; hoạn quan chẳng thấy người nữa, cứ hớn hở đi đường.
39Tui thung hoi angthawk hoi tahang naah, Angraeng ih Muithla mah Philip to lak ving, to pongah tangyat dueh kami mah anih to hnu ai boeh: Ethiopia kami loe anghoehaih hoiah a caeh han ih loklam ah a caeh poe.
40Còn Phi-líp thì người ta thấy ở trong thành A-xốt; từ đó người đi đến thành Sê-sa-rê, cũng giảng Tin Lành khắp những thành nào mình đã ghé qua.
40Philip loe Azota prae ah hnuk o let: Sisaria avang pha ai karoek to a caehhaih loklam avang boih ah kahoih tamthanglok to a thuih.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.