Sứ đồ 20
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Khi sự rối loạn yên rồi, Phao-lô vời các môn đồ đến, khuyên bảo xong, thì từ giã mà đi đến xứ Ma-xê-đoan.
1Lokpunghaih boeng pacoengah, Pawl mah hnukbang kaminawk to kawk moe, thapaekhaih lok a thuih pae; nihcae ban sin pacoengah, Macedonia prae ah a caeh.
2Người trải khắp trong miền nầy, dùng nhiều lời khuyên bảo các tín đồ; rồi tới nước Gờ-réc,
2To prae to caeh takui pacoengah, toah kaom kaminawk hanah thapaekhaih lok a thuih pae, to pacoengah Grik prae ah a caeh.
3ở đó ba tháng. Lúc gần xuống thuyền qua xứ Sy-ri, thì người Giu-đa lập kế hại người, nên người định trải qua xứ Ma-xê-đoan mà trở về.
3Toah khrah thumto a cam. Anih loe Syria prae ah caeh hanah amsak, toe Judahnawk mah anih to angang o pongah, Macedonia prae bang hoi amlaem let hanah a poek.
4Sô-ba-tê, con Bi-ru, quê thành Bê-rê, cùng đi với người, lại có A-ri-tạc và Xê-cun-đu quê thành Tê-sa-lô-ni-ca, Gai-út quê thành Đẹt-bơ và Ti-mô-thê; Ti-chi-cơ và Trô-phim đều quê ở cõi A-si.
4Berea vangpui kami, Sopater mah anih to Asia ah caeh haih, Aristarka hoi Thessalonika vangpui ih Senkunda, Derbe vangpui ih Kaia hoi Timote, Asia prae ih Tykhika hoi Trophima cae doeh athum o toeng.
5Những người nầy đi trước, đợi chúng ta tại thành Trô-ách.
5Hae kaminawk loe caeh o hmaloe moe, Troas vangpui ah kaicae ang zing o.
6Còn chúng ta, khi những ngày ăn bánh không men qua rồi, thì xuống thuyền tại thành Phi-líp, trong năm ngày gặp nhau tại thành Trô-ách, rồi chúng ta ở lại đó bảy ngày.
6Toe taeh thuh ai ih takawcakhaih poih boeng naah loe, Philippi vangpui hoi palong hoiah ka caeh o, ni pangato naah Troas to ka phak o, to vangpui ah ni tarukto ka cam o.
7Ngày thứ nhất trong tuần lễ, chúng ta đang nhóm lại để bẻ bánh; Phao-lô phải đi ngày mai, nên người nói chuyện với các môn đồ, và cứ giảng luôn cho đến nửa đêm,
7Ni tarukto thung ni hmaloe koekah loe, takaw a-aeh hanah hnukbang kaminawk nawnto amkhueng o; Pawl loe khawnbangah kholong caeh amsak pongah, qum taning khoek to lok a thuih.
8có nhiều đèn trong phòng cao mà chúng ta đang nhóm lại.
8Nihcae nawnto amkhuenghaih im ranui ah loe hmai-im to oh mangh.
9Một gã tuổi trẻ tên là Ơ-tích, ngồi trên cửa sổ, ngủ gục trong khi Phao-lô giảng rất dài; và bị ngủ mê quá, nên từ tầng lầu thứ ba té xuống, lúc đỡ dậy đã thấy chết rồi.
9To naah Eutika, tiah ahmin kaom thendoeng maeto loe thokbuem taengah anghnut moe, iih angam; Pawl mah lokthuih li naah, anih loe iih ving, to tiah anih loe im ranui asom thumto hoiah krak tathuk, anih ih kadueh qok to akhuih o.
10Nhưng, Phao-lô bước xuống, nghiêng mình trên người, ôm lấy mà nói rằng: Chớ bối rối, linh hồn còn ở trong người.
10Pawl loe anghum tathuk moe, thendoeng to tapom, mawn o hmah, a hinghaih oh vop, tiah a naa.
11Phao-lô lại trở lên, bẻ bánh mà ăn; giảng luận lâu cho đến sáng mới đi.
11To pacoengah im ranui asom ah caeh tahang, takaw to a-aeh moe, a caak o, khodai khoek to lokthuih pacoengah, kholong ah a caeh.
12Còn gã tuổi trẻ người ta đem đi, thì được sống, sự ấy làm cho mọi người đều được yên ủi lắm.
12Kaminawk mah thendoeng to kahing ah im ranui ah caeh o haih, nihcae loe toah kamong ah oh o.
13Còn chúng ta, thì đi trước, chạy thuyền đến thành A-sốt, là nơi chúng ta phải gặp Phao-lô; người đã định vậy, vì muốn đi bộ.
13Kaicae loe Assos vangpui ah kacaeh palong hoiah ka caeh o hmaloe, toah Pawl hoi nawnto palong hoi caeh hanah kam sak o, toe Pawl loe to vangpui karoek to khok hoi caeh hanah amsak.
14Chúng ta gặp người tại thành A-sốt, bèn đem người đi với, cùng đến thành Mi-ti-len.
14Anih hoi Asso vangpui ah kang qum o naah, anih to kalak o moe, Mytilene vangpui ah palong hoiah ka caeh o.
15Rồi đi từ nơi đó, vẫn theo đường biển, ngày mai đến ngang đảo Chi-ô. Qua ngày sau, chúng ta ghé vào thành Sa-mốt, cách một ngày nữa, thì tới thành Mi-lê.
15To vangpui hoiah palong hoi ka caeh o moe, khawnbangah Kios vangpui to ka phak o; omvaih niah Samos vangpui to ka phak o, Trogyllium ah kang hak o moe, khawnbangah Mileta vangpui to ka phak o.
16Vì Phao-lô đã quyết định đi qua trước thành Ê-phê-sô, xong không dừng lại tại đó, e cho chậm trễ trong cõi A-si. Người vội đi đặng có thể đến thành Giê-ru-sa-lem kịp ngày lễ Ngũ tuần.
16Pawl loe angcoeng thaih nahaeloe Pentecost ni pha ai naah Jerusalem vangpui to phak han koeh pongah, Asia prae ah atue patoh han koeh ai, to pongah Efisa vangpui ah cam ai ah, caeh poe han poekhaih a tawnh.
17Bấy giờ, Phao-lô sai người ở thành Mi-lê đi tới thành Ê-phê-sô, mời các trưởng lão trong Hội thánh đến.
17Efisa vangpui ih kricaabu zaehoikung kacoehtanawk anih khaeah angzoh o hanah, Pawl mah Miletus hoiah kami patoeh.
18Khi các người ấy đã nhóm cùng người, người nói rằng: Từ ngày tôi mới đến cõi A-si, hằng ăn ở luôn với anh em cách nào, anh em vẫn biết,
18To kaminawk anih khae phak o naah, Pawl mah nihcae khaeah, Asia prae ah ka phak tangsuek nathuem hoi kamtong, vaihi karoek to nangcae salakah kawbangmaw kho ka sak,
19tôi hầu việc Chúa cách khiêm nhường, phải nhiều nước mắt, và ở giữa sự thử thách mà người Giu-đa đã lập mưu hại tôi.
19kai loe poek pahnaemhaih, mikkhraetui paroeai longhaih, tanoekhaihnawk, Judahnawk mah kai hum han pacaenghaihnawk to ka tongh, to tiah kaom hmuen thung hoiah ni Angraeng ih tok ka sak, tito nang panoek o.
20Anh em biết tôi chẳng trễ nải rao truyền mọi điều ích lợi cho anh em, chẳng dấu điều chi hết, lại biết tôi đã dạy anh em hoặc giữa công chúng, hoặc từ nhà nầy sang nhà kia,
20Nangcae han atho kaom hawk ih hmuen tidoeh om ai, kamtueng ah ni im maeto pacoeng maeto ah kang patuk o.
21giảng cho người Giu-đa như cho người Gờ-réc về sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời, và đức tin trong Đức Chúa Jêsus là Chúa chúng ta.
21Sithaw ah dawnpakhuemhaih tawnh o moe, aicae Angraeng Jesu tanghaih a tawnh o thai hanah, Judah hoi Grik kaminawk khaeah lok ka thuih.
22Kìa, nay bị Đức Thánh Linh ràng buộc, tôi đi đến thành Giê-ru-sa-lem, chẳng biết điều chi sẽ xảy đến cho tôi ở đó;
22Khenah, Muithla mah pacaehaih rang hoiah vaihi Jerusalem ah ka caeh han, toah kawbaktih hmuen maw ka nuiah pha tih, tito ka panoek ai:
23duy Đức Thánh Linh đã bảo trước cho tôi rằng từ thành nầy sang thành khác dây xích và hoạn nạn đang đợi tôi đó.
23ka caeh ih vangpui kruekah, thongim krak moe, ka tongh han koi karai hmuennawk kawng to Kacai Muithla mah ang thuih.
24Nhưng tôi chẳng kể sự sống mình làm quí, miễn chạy cho xong việc đua tôi và chức vụ tôi đã lãnh nơi Đức Chúa Jêsus, để mà làm chứng về Tin Lành của ơn Đức Chúa Trời.
24Toe Sithaw tahmenhaih, kahoih tamthanglok hae ka thuih moe, Angraeng Jesu khae hoi ka hnuk ih, ka sak han koi tok hae, anghoehaih hoiah ka sak thai hanah, pacaekthlaekhaihnawk loe tiah doeh ka poek ai, ka hinghaih doeh ka paawt ai.
25Hiện bây giờ, tôi biết rằng giữa anh em mà tôi đã ghé qua giảng về nước Đức Chúa Trời, thì chẳng có một ai sẽ thấy mặt tôi nữa.
25Khenah, nangcae khae boih ah Sithaw ukhaih prae tamthanglok thuih hanah ka caeh boeh, vaihi mi mah doeh kai ih krang hnu o let mak ai boeh, tiah ka panoek.
26Nên bữa nay tôi nói quyết trước mặt các anh em rằng tôi tinh sạch về huyết anh em hết thảy.
26To pongah kai loe kaminawk boih ih athii hoiah ka ciim, tiah vaihniah kang thuih o.
27Vì tôi không trễ nải một chút nào để tỏ ra cho biết hết thảy ý muốn của Đức Chúa Trời.
27Angphat ai ah Sithaw koehhaih to nangcae khaeah kang thuih o boih boeh.
28Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình.
28To pongah nangcae loe acoehaih hoiah khosah oh, Kacai Muithla mah khenzawnkung ah ang suek o baktih toengah, tuucaanawk boih to kahoihah khenzawn oh, angmah ih athii hoi qan tangcae ih Sithaw kricaabu khenzawnkung ah om oh.
29Còn tôi biết rằng sau khi tôi đi, sẽ có muông sói dữ tợn xen vào trong vòng anh em, chẳng tiếc bầy đâu;
29Ka caeh pacoengah, nangcae salakah kasan tasuinawk angzo o tih, tuucaanawk to paquem o mak ai, tito ka panoek.
30lại giữa anh em cũng sẽ có những người nói lời hung ác dấy lên, ráng sức dỗ môn đồ theo họ.
30Hnukbang kaminawk nihcae hnukah bangsak ving hanah, loklam amkhraenghaih lokthui kami loe, nangmacae thung hoiah ni tacawt tih.
31Vậy, hãy tỉnh thức, nhớ lại rằng trong ba năm hằng đêm và ngày, tôi hằng chảy nước mắt ra mà khuyên bảo cho mọi người luôn.
31To pongah acoehaih hoiah om oh, saning thumto thung aqum athun mikkhraetui hoiah kang patuk o ih lok to pahnet o hmah.
32Bây giờ tôi giao phó anh em cho Đức Chúa Trời và cho đạo của ơn Ngài, là giao phó cho Đấng có thể gây dựng, và ban gia tài cho anh em chung với hết thảy những người được nên thánh.
32Nawkamyanawk, vaihi angmah ih tahmenhaih lok hoiah Sithaw khaeah kang aap o, ciimcai kaminawk khae boih ah qawk paek hanah, to lok mah na qoeng o sak tih.
33Tôi chẳng ham bạc, vàng, hay là áo xống của ai hết.
33Kai loe minawk ih phoisa maw, to tih ai boeh loe sui maw, to tih ai boeh loe khukbuennawk maw khithaih ka tawn ai.
34Chính anh em biết rằng hai bàn tay nầy đã làm ra sự cần dùng của tôi và của đồng bạn tôi.
34Ue, kaimah hoi kam puinawk angaihaih akoep thai hanah, kaimah ih ban hoiah ni tok ka sak, tito na panoek o.
35Tôi từng bày bảo luôn cho anh em rằng phải chịu khó làm việc như vậy, để giúp đỡ người yếu đuối, và nhớ lại lời chính Đức Chúa Jêsus có phán rằng: Ban cho thì có phước hơn là nhận lãnh.
35Hae tiah toksakhaih hoiah thazok kaminawk to na bomh o han angaih, tito kang patuek o boeh, Anih mah, Talawk pongah loe paek to tahamhoihhaih oh kue, tiah thuih: to tiah Angraeng Jesu mah thuih ih lok to pahnet o hmah.
36Phao-lô nói lời đó xong, bèn quì xuống và cầu nguyện với hết thảy các người ấy.
36Hae loknawk a thuih boih pacoengah, nihcae boih hoi nawnto khokkhu cangkrawn o moe, lawk a thuih o.
37Ai nấy đều khóc lắm, ôm lấy cổ Phao-lô mà hôn,
37Nihcae loe qah o boih, Pawl to takop o moe, a mok o,
38lấy làm buồn bực nhất là vì nghe người nói rằng anh em sẽ chẳng thấy mặt mình nữa. Đoạn, đưa người xuống tàu.
38ka krang na hnu o let mak ai boeh, tiah a thuih ih lok pongah, nihcae loe paroeai palungset o. To pacoengah nihcae mah palong anghakhaih ahmuen karoek to thak o.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.