Sứ đồ 10
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Trong thành Sê-sa-rê, có một người tên là Cọt-nây, làm đội trưởng của đội binh gọi là Y-ta-li.
1Caesarea vangpui ah Kornelia, tiah kawk ih kami maeto oh, anih loe Italy misatuh kami cumvaito ukkung ah oh moe,
2Người vẫn là đạo đức, cùng cả nhà mình đều kính sợ Đức Chúa Trời, người hay bố thí cho dân, và cầu nguyện Đức Chúa Trời luôn không thôi.
2anih hoi a imthung takoh boih loe Sithaw zii kami, bokhaih bangah angpaek kami ah oh o, anih loe amtang kaminawk hanah hmuenmae paek khue ai ah, Sithaw khae lawkthui toepsoep kami ah oh.
3Đang ban ngày, nhằm giờ thứ chín, người thấy rõ ràng trong sự hiện thấy có một vị thiên sứ của Đức Chúa Trời vào nhà mình, và truyền rằng: Hỡi Cọt-nây!
3Atue thumto phak naah, anih mah hnuksakhaih hmuen maeto a hnuk, Sithaw ih van kami angzoh moe, anih khaeah, Kornelia, tiah a naa.
4Đôi mắt người ngó chăm thiên sứ và run sợ lắm, thưa rằng: Lạy Chúa, có việc chi? Thiên sứ nói: Lời cầu nguyện cùng sự bố thí ngươi đã lên thấu Đức Chúa Trời, và Ngài đã ghi nhớ lấy.
4Kornelia mah anih to khet naah zit moe, Angraeng, tih maw? tiah a naa. Anih mah Kornelia khaeah, Na lawkthuihaih hoi amtang kaminawk hanah na paqumh ih hmuen loe, panoek poe hanah Sithaw hmaa angzoh tahang boeh.
5Vậy, bây giờ hãy sai người đến thành Giốp-bê, mời Si-môn nào đó, cũng gọi là Phi-e-rơ.
5Vaihi Joppa vangpui ah kami patoeh ah loe Piter, tiah kawk ih, Simon to kawk ah:
6Người hiện trọ nơi Si-môn, là thợ thuộc da, nhà ở gần biển.
6anih loe moihin huikung Simon im ah oh, anih ih im loe tuipui taengah oh: anih mah na sak han koi hmuen to na thui tih, tiah a naa.
7Khi thiên sứ, là đấng truyền cho người, đã trở lui, thì Cọt-nây gọi hai người trong đám đầy tớ mình và một tên lính tin kính trong những lính thuộc về mình,
7Anih khaeah lok kathui van kami to tacawt pacoengah, Kornelia mah a tamna hnik hoi Sithaw tanghaih tawn misatuh kami maeto a kawk moe;
8mà thuật lại mọi điều cho họ nghe, rồi sai đến thành Giốp-bê.
8a hnuk ih hmuen hoi a thaih ih hmuennawk to a thuih pae boih pacoengah, nihcae to Joppa vangpui ah patoeh.
9Bữa sau, trong lúc ba người ấy đang đi đường và đã đến gần thành, vừa nhằm giờ thứ sáu Phi-e-rơ leo lên mái nhà để cầu nguyện.
9Khawnbangah loe nihcae kholong caeh amsak o, Joppa vangpui to a phak o tom boeh, Piter loe lawkthuih hanah atue tarukto naah im ranui asom ah dawh tahang:
10Người đói và thèm ăn; khi người ta đang dọn cho ăn, thì người bị ngất trí đi.
10anih loe zok amthlam parai pongah, buhcaak han koeh boeh: buhcaak hanah patoem pae o naah, hnuksakhaih to a hnuk,
11Người thấy trời mở ra, và có vật chi giống như một bức khăn lớn níu bốn chéo lên, giáng xuống và sa đến đất:
11kam-ong van to a hnuk, anih khae krah tathuk, takii palito kaom kahni anih khaeah long ah khrah tathuk hmuen to a hnuk.
12thấy trong đó có những thú bốn cẳng, đủ mọi loài, côn trùng bò trên đất, và chim trên trời.
12To kahni pongah loe khok palito kaom congca moinawk to oh, long ah kaom moisannawk, long ah kavak hmuennawk hoi van ah kazawk tavaanawk doeh oh.
13Lại có tiếng phán cùng người rằng: Hỡi Phi-e-rơ, hãy dậy, làm thịt và ăn.
13To naah anih khaeah lok maeto angzoh moe, Piter angthawk ah; bop ah loe, caa ah, tiah a naa.
14Song Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chẳng vậy; vì tôi chẳng ăn giống gì dơ dáy chẳng sạch bao giờ.
14Toe Piter mah, Angcoeng thai ai, Angraeng; caak vai ai ih hmuen, to tih ai boeh loe ciimcai ai hmuen roe ka caa vai ai, tiah a naa.
15Tiếng đó lại phán cùng người lần thứ hai rằng: Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy.
15Vai hnetto haih ih lok mah anih khaeah, Sithaw mah ciimsak tangcae ih hmuen to ciimcai ai, tiah na thuih han om ai, tiah a naa.
16Lời đó lặp lại ba lần; rồi vật ấy liền bị thâu lên trên trời.
16To tiah vaithumto amtueng; to pacoengah loe to hmuen to van ah lak tahang let.
17Phi-e-rơ đang nghi ngờ về ý nghĩa của sự hiện thấy mình đã thấy, thì các người mà Cọt-nây sai đi đã hỏi thăm được nhà Si-môn, và tới đứng tận cửa.
17Piter mah to tiah hnuk ih hmuen loe tih thuih koehhaih ih maw vai, tiah a poek li naah, khenah, Kornerlia mah patoeh ih kaminawk mah Simon ih im to pakrong o, khongkha hma ah angdoet o moe,
18Họ kêu và hỏi đây có phải là nơi Si-môn tức Phi-e-rơ ở chăng.
18Piter, tiah kawk ih Simon to haeah oh maw? tiah a dueng o.
19Phi-e-rơ còn đang ngẫm nghĩ về sự hiện thấy đó, thì Đức Thánh Linh phán cùng người rằng: Kìa, có ba người đang tìm ngươi.
19Piter mah a hnuk ih hmuen to poek li naah, Muithla mah anih khaeah, Khenah, kami long thumto mah nang ang pakrong o, tiah a naa.
20Vậy, hãy đứng dậy, xuống mà đi với họ, chớ hồ nghi, vì ta đã sai họ đó.
20To pongah angthawk ah, anghum tathuk ah loe, nihcae hoi nawnto caeh ah, palunghaenghaih tawn hmah, kai mah ni nihcae to kang patoeh, tiah a naa.
21Phi-e-rơ bèn xuống cùng họ mà nói rằng: Ta đây, là người các ngươi đang tìm; các ngươi đến đây có việc gì?
21Piter loe anghum tathuk moe, Kornelia mah patoeh ih kaminawk khaeah; khenah, na pakrong o ih kami loe kai hae ni: tih sak han ih maw nang zoh o? tiah a naa.
22Họ trả lời rằng: Đội trưởng Cọt-nây là người công bình, kính sợ Đức Chúa Trời, cả dân Giu-đa đều làm chứng tốt về người, người đó đã bởi một vị thiên sứ thánh mà chịu mạng lịnh từ nơi cao rằng phải mời ông về nhà và nghe lời ông.
22Nihcae mah, Kami katoeng, Sithaw zii kami, Judah kaminawk boih mah saiqat o ih misatuh cumvaito ukkung Kornerlia mah, nang to angmah im ah kawk moe, na thuih ih lok to tahngaih hanah, Sithaw mah kaciim van kami maeto rang hoiah lok a thuih pae, tiah a naa o.
23Phi-e-rơ bèn mời họ vào nhà và cho trọ tại đó. Ngày mai, Phi-e-rơ chờ dậy đi với họ, có một vài người trong hàng anh em từ Giốp-bê cùng đi với.
23To naah Piter mah nihcae to imthung ah kawk moe, anghaksak. Khawnbangah Piter loe nihcae hoi nawnto caeh, Joppa vangpui ah kaom nawkamya thoemtonawk doeh anih hnukah bang o.
24Bữa sau, đến thành Sê-sa-rê. Cọt-nây với bà con và bạn thiết mà người đã nhóm lại tại nhà mình đang chờ đợi.
24Khawnbangah Caesarea vangpui thungah akun o. Kornerlia loe angmah ih canawk hoi kangzong ampuinawk to kawk moe, nihcae to zing o.
25Phi-e-rơ vừa vào, thì Cọt-nây ra rước, phục xuống dưới chân người mà lạy.
25Piter imthung ah akun naah, Kornerlia mah anih to dawt moe, a khokkung ah tabok hoiah anih to bok.
26Nhưng Phi-e-rơ đỡ người dậy, nói rằng: Ngươi hãy đứng dậy, chính ta cũng chỉ là người mà thôi.
26Toe Piter mah anih to pathawk, angthawk ah, kai doeh kami maeto toeng ni, tiah a naa.
27Phi-e-rơ đang nói chuyện với Cọt-nây, bước vào, thấy có nhiều người nhóm lại.
27Lok apaeh hoi pacoengah, Piter loe imthung ah akun, to naah pop parai amkhueng kaminawk to a hnuk.
28Người nói cùng chúng rằng: Người Giu-đa vốn không được phép giao thông với người ngoại quốc hay là tới nhà họ; nhưng Đức Chúa Trời đã tỏ cho ta biết chẳng nên coi một người nào là ô uế hay chẳng sạch.
28Peter mah nihcae khaeah, minawk kalah hoi angkom moe, nawnto oh hae Judah kaminawk ih atawk na ai ni, tito na panoek o; toe kawbaktih kami khaeah doeh nang loe na ciimcai ai, nam hnong aak, tiah thuih han ai ah, Sithaw mah hmuen ang patuek boeh.
29Nên khi các ngươi đã sai tìm, thì ta chẳng ngại gì mà đến đây. Vậy ta hỏi vì việc chi mà các ngươi mời ta đến.
29To pongah kai nang kawk o naah, angaekhaih tidoeh om ai ah nangcae khaeah kang zoh: tih han ih maw kai haeah nang kawk o? tiah lokdueng han ka koeh, tiah a naa.
30Cọt-nây trả lời rằng: Đã bốn ngày nay, nhằm giờ thứ chín, tôi đang ở nhà cầu nguyện, thình lình có một người mặc áo sáng lòa, hiện ra trước mặt tôi,
30To naah Kornerlia mah, Kalaem tangcae ni palito, vaihi tue thuem, atue takawtto naah, buhzah hoiah kaimah im ah lawk ka thuih; khenah, kampha kahni angkhuk kami maeto ka hma ah angdoet moe,
31mà phán rằng: Hỡi Cọt-nây, lời cầu nguyện ngươi đã được nhậm, Đức Chúa Trời đã ghi nhớ việc bố thí của ngươi.
31kai khaeah, Kornerlia, lawk na thuihaih lok to thaih boeh, amtang kaminawk han na paqumh ih hmuennawk doeh Sithaw mah panoek boeh.
32Vậy, ngươi hãy sai đến thành Giốp-bê, mời Si-môn, là Phi-e-rơ đến đây: người đang ở tại nhà Si-môn, thợ thuộc da, gần biển.
32To pongah Joppa vangpui ah kami to patoeh ah loe, Piter, tiah ahmin kaom Simon to kawk ah; anih loe tuipui taengah kaom moihin sahkung, Simon im ah toemh: anih phak naah, nang hanah lokthui tih, tiah ang naa.
33Tức thì tôi sai tìm ông, mà ông đến đây là rất phải. Vậy, bây giờ, thay thảy chúng tôi đang ở trước mặt Đức Chúa Trời, để nghe mọi điều Chúa đã dặn ông nói cho chúng tôi.
33To pongah kami kang patoeh roep; haeah nang zoh hae paroeai hoih. To pongah Sithaw mah ang paek ih hmuennawk boih tahngaih hanah, kaicae loe vaihi Sithaw hmaa ah kang cuu o, tiah a naa.
34Phi-e-rơ bèn mở miệng nói rằng: Quả thật, ta biết Đức Chúa Trời chẳng hề vị nể ai,
34To pacoengah Piter mah lokthuih amtong, Sithaw loe mi kawbaktih ih mikhmai doeh khen ai, tiah thuih ih lok loe amsoem, tito vaihi ka panoek boeh;
35nhưng trong các dân, hễ ai kính sợ Ngài và làm sự công bình, thì nấy được đẹp lòng Chúa.
35toe zithaih tawn kami hoi toenghaih sah prae kaminawk boih to anih mah talawk.
36Aáy là lời Ngài đã phán cùng con cái Y-sơ-ra-ên, khi rao giảng tin lành về sự bình an bởi Đức Chúa Jêsus-Christ, tức là Chúa của loài người.
36Sithaw mah Israel caanawk khaeah patoeh ih lok mah, Jesu Kri rang hoiah monghaih lok to thuih: (anih loe kaminawk boih ih Angraeng ah oh:)
37Việc đã bắt đầu từ xứ Ga-li-lê rồi tràn ra trong cả xứ Giu-đê, kế sau Giăng đã giảng ra phép báp-tem, thì các ngươi biết rồi;
37Johan mah tuinuemhaih lok thuih pacoengah, Kalili prae hoiah amtong moe, Judea prae boih ah thuih ih to tamthang lok to na panoek o boeh;
38thể nào Đức Chúa Trời đã xức cho Đức Chúa Jêsus ở Na-xa-rét bằng Đức Thánh Linh và quyền phép, rồi Ngài đi từ nơi nọ qua chỗ kia làm phước và chữa lành hết thảy những người bị ma quỉ ức hiếp; vì Đức Chúa Trời ở cùng Ngài.
38Sithaw mah anih to oh thuih pongah, Sithaw mah Kacai Muithla hoi thacakhaih hoiah Nazareth Jesu to situi bawh, anih loe kahoih hmuennawk to sak moe, taqawk mah pacaekthlaek ih kaminawk doeh ngan a tuisak, tito na panoek o.
39Chúng ta từng chứng kiến về mọi điều Ngài đã làm trong xứ người Giu-đa và tại thành Giê-ru-sa-lem. Chúng đã treo Ngài trên cây gỗ mà giết đi.
39Kaicae loe anih mah Judah prae hoi Jerusalem ah sak ih hmuenawk boih hnukung ah ka oh o; Anih to thinglam pongah takhing o moe, hum o:
40Nhưng ngày thứ ba, Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại, lại cho Ngài được tỏ ra,
40Toe Sithaw mah ni thumto pacoengah Anih to pathawk let, Anih to kamnoek ah amtuengsak boeh;
41chẳng hiện ra với cả dân chúng, nhưng với những kẻ làm chứng mà Đức Chúa Trời đã chọn trước, tức là với chúng ta, là kẻ đã ăn uống cùng Ngài, sau khi Ngài từ trong kẻ chết sống lại.
41Anih loe kaminawk boih khaeah amtueng ai, toe duekhaih thung hoi angthawk let pacoengah, angmah hoi buh nawnto kacaa Sithaw angmah qoih coek ih hnukungah kaom, kaicae khaeah ni amtueng.
42Lại Ngài đã biểu chúng ta khá giảng dạy cho dân chúng, và chứng quyết chính Ngài là Đấng Đức Chúa Trời đã lập lên để đoán xét kẻ sống và kẻ chết.
42Sithaw mah Anih hanah kadueh hoi kahing kaminawk lokcaekhaih to paek boeh, tiah kaminawk khaeah thuih moe, panoeksak hanah, kaicae khaeah lok ang paek.
43Hết thảy các đấng tiên tri đều làm chứng nầy về Ngài rằng hễ ai tin Ngài thì được sự tha tội vì danh Ngài.
43Mi kawbaktih doeh anih tang kami loe angmah ih ahmin rang hoiah zae tahmenhaih to hnu tih, tiah tahmaanawk boih mah thuih o boeh.
44Khi Phi-e-rơ đang nói, thì Đức Thánh Linh giáng trên mọi người nghe đạo.
44Piter mah hae loknawk thuih li naah, lok thaih kaminawk boih nuiah Kacai Muithla to krak tathuk.
45Các tín đồ đã chịu phép cắt bì, là những kẻ đồng đến với Phi-e-rơ, đều lấy làm lạ, vì thấy sự ban cho Đức Thánh Linh cũng đổ ra trên người ngoại nữa.
45Gentel kaminawk nuiah doeh Kacai Muithla tangqum to kraih pae toeng boeh pongah, Piter hoi nawnto angzo tangzat hin aat tangcaanawk loe dawnrai o.
46Vì các tín đồ đó nghe họ nói tiếng ngoại quốc và khen ngợi Đức Chúa Trời.
46Nihcae mah kalah loknawk to apaeh o moe, Sithaw pakoeh o boeh, tito nihcae mah thaih o. To pacoengah Piter mah,
47Bấy giờ Phi-e-rơ lại cất tiếng nói rằng: Người ta có thể từ chối nước về phép báp-tem cho những kẻ đã nhận lấy Đức Thánh Linh cũng như chúng ta chăng?
47tuinuemhaih paek han ai ah, mi mah maw hae kaminawk hae pakaa thai tih? Kaicae mah talawk ih baktih toengah, nihcae mah doeh Kacai Muithla to talawk o toeng boeh, tiah a naa.
48Người lại truyền làm phép báp-tem cho họ nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ. Họ bèn nài người ở lại với mình một vài ngày.
48To pongah nihcae to Angraeng ih ahmin hoiah tuinuem hanah a thuih pae. To pacoengah nihcae mah Piter khaeah, ni nazetto thungah maw loe cam rae hanah, tahmenhaih hnik o.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.