Sứ đồ 20
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Khi sự rối loạn yên rồi, Phao-lô vời các môn đồ đến, khuyên bảo xong, thì từ giã mà đi đến xứ Ma-xê-đoan.
1А пошто се утиша буна, дозва Павле ученике, и утешивши их опрости се с њима, и изиђе да иде у Македонију.
2Người trải khắp trong miền nầy, dùng nhiều lời khuyên bảo các tín đồ; rồi tới nước Gờ-réc,
2И прошавши оне земље, и световавши их многим речима, дође у Грчку.
3ở đó ba tháng. Lúc gần xuống thuyền qua xứ Sy-ri, thì người Giu-đa lập kế hại người, nên người định trải qua xứ Ma-xê-đoan mà trở về.
3Поживевши пак онамо три месеца стадоше му Јевреји радити о глави кад хтеде да се одвезе у Сирију, и намисли да се врати преко Македоније.
4Sô-ba-tê, con Bi-ru, quê thành Bê-rê, cùng đi với người, lại có A-ri-tạc và Xê-cun-đu quê thành Tê-sa-lô-ni-ca, Gai-út quê thành Đẹt-bơ và Ti-mô-thê; Ti-chi-cơ và Trô-phim đều quê ở cõi A-si.
4И пође с њим до Азије Сосипатар Пиров из Верије, и Аристарх и Секунд из Солуна, и Гај из Дерве и Тимотије, и Тихик и Трофим из Азије.
5Những người nầy đi trước, đợi chúng ta tại thành Trô-ách.
5Ови отишавши напред чекаху нас у Троади.
6Còn chúng ta, khi những ngày ăn bánh không men qua rồi, thì xuống thuyền tại thành Phi-líp, trong năm ngày gặp nhau tại thành Trô-ách, rồi chúng ta ở lại đó bảy ngày.
6А ми се одвезосмо после дана пресних хлебова из Филибе, и дођосмо к њима у Троаду за пет дана, и онде остасмо седам дана.
7Ngày thứ nhất trong tuần lễ, chúng ta đang nhóm lại để bẻ bánh; Phao-lô phải đi ngày mai, nên người nói chuyện với các môn đồ, và cứ giảng luôn cho đến nửa đêm,
7А у први дан недеље, кад се сабраше ученици да ломе хлеб, говораше им Павле, јер хтеде сутрадан да пође, и протеже беседу до поноћи.
8có nhiều đèn trong phòng cao mà chúng ta đang nhóm lại.
8И беху многе свеће горе у соби где се бејасмо сабрали.
9Một gã tuổi trẻ tên là Ơ-tích, ngồi trên cửa sổ, ngủ gục trong khi Phao-lô giảng rất dài; và bị ngủ mê quá, nên từ tầng lầu thứ ba té xuống, lúc đỡ dậy đã thấy chết rồi.
9А сеђаше на прозору једно момче, по имену Евтих, надвладано од тврдог сна, и кад Павле говораше много, наже се у сну и паде доле с трећег пода, и дигоше га мртва.
10Nhưng, Phao-lô bước xuống, nghiêng mình trên người, ôm lấy mà nói rằng: Chớ bối rối, linh hồn còn ở trong người.
10А Павле сишавши паде на њ, и загрливши га рече: Не буните се, јер је душа његова у њему.
11Phao-lô lại trở lên, bẻ bánh mà ăn; giảng luận lâu cho đến sáng mới đi.
11Онда изиђе горе, и преломивши хлеб окуси, и довољно говори до саме зоре, и тако отиде.
12Còn gã tuổi trẻ người ta đem đi, thì được sống, sự ấy làm cho mọi người đều được yên ủi lắm.
12А момче доведоше живо, и утешише се не мало.
13Còn chúng ta, thì đi trước, chạy thuyền đến thành A-sốt, là nơi chúng ta phải gặp Phao-lô; người đã định vậy, vì muốn đi bộ.
13А ми дошавши у лађу одвезосмо се у Ас, и оданде хтесмо да узмемо Павла; јер тако беше заповедио, хотећи сам да иде пешице.
14Chúng ta gặp người tại thành A-sốt, bèn đem người đi với, cùng đến thành Mi-ti-len.
14А кад се саста с нама у Асу, узесмо га, и дођосмо у Митилину.
15Rồi đi từ nơi đó, vẫn theo đường biển, ngày mai đến ngang đảo Chi-ô. Qua ngày sau, chúng ta ghé vào thành Sa-mốt, cách một ngày nữa, thì tới thành Mi-lê.
15И оданде одвезавши се дођосмо сутрадан према Хију; а други дан одвезосмо се у сам, и ноћисмо у Тригилију; и сутрадан дођосмо у Милит.
16Vì Phao-lô đã quyết định đi qua trước thành Ê-phê-sô, xong không dừng lại tại đó, e cho chậm trễ trong cõi A-si. Người vội đi đặng có thể đến thành Giê-ru-sa-lem kịp ngày lễ Ngũ tuần.
16Јер Павле намисли да прођемо мимо Ефес да се не би задржао у Азији; јер хићаше, ако буде могуће, да буде о Тројичину дне у Јерусалиму.
17Bấy giờ, Phao-lô sai người ở thành Mi-lê đi tới thành Ê-phê-sô, mời các trưởng lão trong Hội thánh đến.
17Али из Милита посла у Ефес и дозва старешине црквене.
18Khi các người ấy đã nhóm cùng người, người nói rằng: Từ ngày tôi mới đến cõi A-si, hằng ăn ở luôn với anh em cách nào, anh em vẫn biết,
18И кад дођоше к њему, рече им: Ви знате од првог дана кад дођох у Азију како с вама једнако бих
19tôi hầu việc Chúa cách khiêm nhường, phải nhiều nước mắt, và ở giữa sự thử thách mà người Giu-đa đã lập mưu hại tôi.
19служећи Господу са сваком понизности и многим сузама и напастима које ми се догодише од Јевреја који ми рађаху о глави;
20Anh em biết tôi chẳng trễ nải rao truyền mọi điều ích lợi cho anh em, chẳng dấu điều chi hết, lại biết tôi đã dạy anh em hoặc giữa công chúng, hoặc từ nhà nầy sang nhà kia,
20како ништа корисно не изоставих да вам не кажем и да вас научим пред народом и по кућама,
21giảng cho người Giu-đa như cho người Gờ-réc về sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời, và đức tin trong Đức Chúa Jêsus là Chúa chúng ta.
21сведочећи и Јеврејима и Грцима покајање к Богу и веру у Господа нашег Исуса Христа.
22Kìa, nay bị Đức Thánh Linh ràng buộc, tôi đi đến thành Giê-ru-sa-lem, chẳng biết điều chi sẽ xảy đến cho tôi ở đó;
22И сад ево ја свезан Духом идем у Јерусалим не знајући шта ће ми се у њему догодити;
23duy Đức Thánh Linh đã bảo trước cho tôi rằng từ thành nầy sang thành khác dây xích và hoạn nạn đang đợi tôi đó.
23осим да Дух Свети по свим градовима сведочи, говорећи да ме окови и невоље чекају.
24Nhưng tôi chẳng kể sự sống mình làm quí, miễn chạy cho xong việc đua tôi và chức vụ tôi đã lãnh nơi Đức Chúa Jêsus, để mà làm chứng về Tin Lành của ơn Đức Chúa Trời.
24Али се низашта не бринем, нити марим за свој живот, него да свршим течење своје с радошћу и службу коју примих од Господа Исуса: да посведочим јеванђеље благодати Божје.
25Hiện bây giờ, tôi biết rằng giữa anh em mà tôi đã ghé qua giảng về nước Đức Chúa Trời, thì chẳng có một ai sẽ thấy mặt tôi nữa.
25И ево сад знам да више нећете видети моје лице, ви сви по којима пролазих проповедајући царство Божје.
26Nên bữa nay tôi nói quyết trước mặt các anh em rằng tôi tinh sạch về huyết anh em hết thảy.
26Зато вам сведочим у данашњи дан да сам ја чист од крви свију;
27Vì tôi không trễ nải một chút nào để tỏ ra cho biết hết thảy ý muốn của Đức Chúa Trời.
27јер не изоставих да покажем вољу Божју.
28Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình.
28Пазите дакле на себе и на све стадо у коме вас Дух Свети постави владикама да пасете цркву Господа и Бога коју стече крвљу својом;
29Còn tôi biết rằng sau khi tôi đi, sẽ có muông sói dữ tợn xen vào trong vòng anh em, chẳng tiếc bầy đâu;
29јер ја ово знам да ће по одласку мом ући међу вас тешки вуци који неће штедети стада;
30lại giữa anh em cũng sẽ có những người nói lời hung ác dấy lên, ráng sức dỗ môn đồ theo họ.
30и између вас самих постаће људи који ће говорити изврнуту науку да одвраћају ученике за собом.
31Vậy, hãy tỉnh thức, nhớ lại rằng trong ba năm hằng đêm và ngày, tôi hằng chảy nước mắt ra mà khuyên bảo cho mọi người luôn.
31Зато гледајте и опомињите се да три године дан и ноћ не престајах учећи са сузама сваког од вас.
32Bây giờ tôi giao phó anh em cho Đức Chúa Trời và cho đạo của ơn Ngài, là giao phó cho Đấng có thể gây dựng, và ban gia tài cho anh em chung với hết thảy những người được nên thánh.
32И сад вас, браћо, предајем Богу и речи благодати Његове, који може назидати и дати вам наследство међу свима освећенима.
33Tôi chẳng ham bạc, vàng, hay là áo xống của ai hết.
33Сребра, или злата, или руха ни у једног не заисках.
34Chính anh em biết rằng hai bàn tay nầy đã làm ra sự cần dùng của tôi và của đồng bạn tôi.
34Сами знате да потреби мојој и оних који су са мном били послужише ове руке моје.
35Tôi từng bày bảo luôn cho anh em rằng phải chịu khó làm việc như vậy, để giúp đỡ người yếu đuối, và nhớ lại lời chính Đức Chúa Jêsus có phán rằng: Ban cho thì có phước hơn là nhận lãnh.
35Све вам показах да се тако ваља трудити и помагати немоћнима, и опомињати се речи Господа Исуса коју Он рече: Много је блаженије давати неголи узимати.
36Phao-lô nói lời đó xong, bèn quì xuống và cầu nguyện với hết thảy các người ấy.
36И ово рекавши клече на колена своја са свима њима и помоли се Богу.
37Ai nấy đều khóc lắm, ôm lấy cổ Phao-lô mà hôn,
37А свију стаде велики плач и загрливши Павла целиваху га,
38lấy làm buồn bực nhất là vì nghe người nói rằng anh em sẽ chẳng thấy mặt mình nữa. Đoạn, đưa người xuống tàu.
38жалосни највише за реч коју рече да више неће видети лице његово; и отпратише га у лађу.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.