Sứ đồ 7
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Thầy cả thượng phẩm bèn hỏi Ê-tiên rằng: Có phải thật như vậy chăng?
1А поглавар свештенички рече: Је ли дакле тако?
2Ê-tiên trả lời rằng: Hỡi các anh, các cha, xin nghe lời tôi! Đức Chúa Trời vinh hiển đã hiện ra cùng tổ chúng ta là Aùp-ra-ham, khi người còn ở tại Mê-sô-bô-ta-mi, chưa đến ở tại Cha-ran,
2А он рече: Људи браћо и оци! Послушајте. Бог славе јави се оцу нашем Аврааму кад беше у Месопотамији, пре него се досели у Харан,
3mà phán rằng: Hãy ra khỏi quê hương và bà con ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho.
3и рече му: Изиђи из земље своје и од рода свог и из дома оца свог, и дођи у земљу коју ћу ти ја показати.
4Bấy giờ người ra khỏi xứ Canh-đê, rồi đến thành Cha-ran. Từ đó, lúc cha người qua đời rồi, Đức Chúa Trời khiến người từ nơi đó qua xứ các ông hiện đang ở;
4Тада изиђе из земље халдејске, и досели се у Харан; и оданде, по смрти оца његовог, пресели га у ову земљу у којој ви сад живите.
5Ngài chẳng ban cho người sản nghiệp gì trong xứ nầy, dầu một thẻo đất lọt bàn chân cũng không, nhưng Ngài hứa ban xứ nầy làm kỷ vật cho người và dòng dõi người nữa, dẫu bấy giờ người chưa có con cái mặc lòng.
5И не даде му наследство у њој ни стопе; и обрече му је дати у држање и семену његовом после њега, док он још немаше детета.
6Đức Chúa Trời phán như vầy: Dòng dõi ngươi sẽ ở ngụ nơi đất khách, người ta sẽ bắt chúng nó làm tôi và hà hiếp trong bốn trăm năm.
6Али Бог рече овако: Семе твоје биће дошљаци у земљи туђој, и натераће га да служи, и мучиће га четири стотине година.
7Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nhưng ta sẽ đoán xét dân đã bắt chúng nó làm tôi, kế đó, chúng nó sẽ ra khỏi, và thờ phượng ta trong nơi nầy.
7И народу коме ће служити ја ћу судити, рече Бог; и потом ће изићи, и служиће мени на овоме месту.
8Đoạn, Đức Chúa Trời ban cho người sự giao ước về phép cắt bì. Aáy vậy, khi Aùp-ra-ham đã sanh một con trai là Y-sác, thì làm phép cắt bì cho, trong ngày thứ tám; Y-sác làm phép cắt bì cho Gia-cốp, và Gia-cốp làm phép ấy cho mười hai tổ phụ.
8И даде му завет обрезања, и тако роди Исака, и обреза га у осми дан; и Исак Јакова, и Јаков дванаест старешина.
9Mười hai tổ phụ ghen ghét Giô-sép, nên bán qua xứ Ê-díp-tô; nhưng Đức Chúa Trời ở cùng người.
9И старешине завиђаху Јосифу, и продадоше га у Мисир; и Бог беше с њим.
10Ngài giải cứu người khỏi cảnh khó khăn, và cho đầy ơn và trí trước mặt Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, vua ấy lập người làm tể tướng cai quản xứ Ê-díp-tô và cả nhà vua nữa.
10И избави га од свих његових невоља, и даде му милост и премудрост пред Фараоном царем мисирским, и постави га поглаваром над Мисиром и над свим домом својим.
11Bấy giờ, xảy có cơn đói kém trong cả xứ Ê-díp-tô và xứ Ca-na-an; sự túng ngặt lớn lắm, tổ phụ chúng ta chẳng tìm được đồ ăn.
11А дође глад на сву земљу мисирску и хананску и невоља велика, и не налажаху хране оци наши.
12Gia-cốp nghe bên Ê-díp-tô có lúa mì, thì sai tổ phụ ta qua đó lần thứ nhất.
12А Јаков чувши да има пшенице у Мисиру посла најпре оце наше.
13Đến lần thứ hai, anh em Giô-sép nhận biết người, và Pha-ra-ôn mới biết dòng họ người.
13И кад дођоше други пут, познаше Јосифа браћа његова, и род Јосифов поста познат Фараону.
14Giô-sép bèn sai rước Gia-cốp là cha mình và cả nhà, cộng là bảy mươi lăm người.
14А Јосиф посла и дозва оца свог Јакова и сву родбину своју, седамдесет и пет душа.
15Vậy, Gia-cốp xuống xứ Ê-díp-tô, rồi chết tại đó, và tổ phụ chúng ta cũng vậy;
15И Јаков сиђе у Мисир, и умре, он и очеви наши.
16sau được đem về Si-chem, chôn nơi mộ mà Aùp-ra-ham đã lấy bạc mua của con cháu Hê-mô quê ở Si-chem.
16И пренесоше их у Сихем, и метнуше у гроб који купи Авраам за новце од синова Еморових у Сихему.
17Nhưng, gần đến kỳ phải ứng nghiệm lời hứa Đức Chúa Trời đã thề với Aùp-ra-ham, dân cứ sanh sản và thêm nhiều lên trong xứ Ê-díp-tô,
17И кад се приближи време обећања за које се Бог закле Аврааму, народ се народи и умножи у Мисиру,
18cho đến khi trong xứ đó có một vua khác dấy lên, chẳng nhìn biết Giô-sép.
18док наста други цар у Мисиру, који не знаше Јосифа.
19Vua nầy dùng mưu hại dòng giống và hà hiếp tổ phụ chúng ta, ép phải bỏ con mới sanh, hầu cho sống chẳng được.
19Овај намисли зло за наш род, измучи оце наше да своју децу бацаху да не живе.
20Trong lúc đó, Môi-se sanh ra; người xinh tốt khác thường, được nuôi trong ba tháng tại nhà cha mình.
20У то се време роди Мојсије, и беше Богу угодан, и би три месеца храњен у кући оца свог.
21Khi người bị bỏ, thì con gái Pha-ra-ôn vớt lấy, nuôi làm con mình.
21А кад га избацише, узе га кћи Фараонова, и одгаји га себи за сина.
22Môi-se được học cả sự khôn ngoan của người Ê-díp-tô; lời nói và việc làm đều có tài năng.
22И научи се Мојсије свој премудрости мисирској, и беше силан у речима и у делима.
23Nhưng lúc người được đầy bốn mươi tuổi rồi, trong lòng nhớ đến, muốn đi thăm anh em mình là con cái Y-sơ-ra-ên.
23А кад му се навршиваше четрдесет година, дође му на ум да обиђе браћу своју, синове Израиљеве.
24Môi-se thấy có người hà hiếp một người trong đám họ, nên binh vực kẻ bị hà hiếp và đánh người Ê-díp-tô để báo thù cho.
24И видевши једном где се чини неправда, поможе, и покаја оног што му се чињаше неправда, и уби Мисирца.
25Người ngờ anh em mình chắc hiểu rằng Đức Chúa Trời dùng tay mình giải cứu họ; nhưng họ chẳng hiểu.
25Мишљаше пак да браћа његова разумеју да Бог његовом руком њима спасење даде: али они не разумеше.
26Đến ngày sau, chúng đang đánh lộn với nhau, thì người đến gần mà giải hòa, rằng: Hỡi các ngươi, đã là anh em, sao lại làm hại nhau vậy?
26А сутрадан дође међу такве који се беху свадили, и мираше их говорећи: Људи, ви сте браћа, зашто чините неправду један другом?
27Kẻ đang ức hiếp người lân cận mình xô Môi se ra, mà rằng: Ai đã lập ngươi lên làm quan cai trị và quan xử đoán chúng ta?
27А онај што чињаше неправду ближњему укори га говорећи: Ко је тебе поставио кнезом и судијом над нама?
28Há ngươi muốn giết ta như hôm qua đã giết người Ê-díp-tô sao?
28Или и мене хоћеш да убијеш као што си јуче убио Мисирца?
29Môi-se vừa nghe lời đó thì trốn đi ở trong xứ Ma-đi-an, nơi đó người sanh được hai con trai.
29А Мојсије побеже од ове речи, и поста дошљак у земљи мадијанској, где роди два сина.
30Cách bốn mươi năm, một thiên sứ hiện ra cùng người, tại đồng vắng núi Si-na-i, trong ngọn lửa nơi bụi gai đang cháy.
30И кад се наврши четрдесет година, јави му се у пустињи горе синајске анђео Господњи у пламену огњеном у купини.
31Môi-se thấy vậy, lấy làm lạ về sự hiện ra đó, đang áp lại để xem cho gần hơn, thì nghe tiếng Chúa phán rằng:
31А кад Мојсије виде, дивљаше се утвари. А кад он приступи да види, би глас Господњи к њему:
32Ta là Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi, Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, của Y-sác và của Gia-cốp. Môi-se run sợ, chẳng dám nhìn xem.
32Ја сам Бог отаца твојих, Бог Авраамов и Бог Исаков и Бог Јаковљев. А Мојсије се беше уздрхтао и не смеше да погледа.
33Chúa bèn phán rằng: Hãy cổi giày ở chân ngươi ra; vì chỗ mà ngươi đứng đó là một nơi đất thánh.
33А Господ му рече: Изуј обућу своју са својих ногу: јер је место на коме стојиш света земља.
34Ta đã đoái xem và thấy cảnh khó khăn của dân ta trong xứ Ê-díp-tô, ta đã nghe tiếng than thở của chúng nó, và xuống đặng giải cứu. Bây giờ hãy đến, đặng ta sai ngươi qua xứ Ê-díp-tô.
34Ја добро видех муку свог народа који је у Мисиру, и чух њихово уздисање, и сиђох да их избавим: и сад ходи да те пошаљем у Мисир.
35Môi-se nầy là người họ đã bỏ ra, và rằng: Ai đã lập ngươi lên làm quan cai trị và quan đoán xét chúng ta? Aáy là người mà Đức Chúa Trời đã sai làm quan cai trị và đấng giải cứu, cậy tay một thiên sứ đã hiện ra với người trong bụi gai.
35Овог Мојсија, ког укорише рекавши: Ко те постави кнезом и судијом? Овог Бог за кнеза и избавитеља посла руком анђела који му се јави у купини.
36Aáy là người đã đem họ ra khỏi, làm những dấu kỳ phép lạ trong xứ Ê-díp-tô, trên Biển-đỏ, và nơi đồng vắng trong bốn mươi năm.
36Овај их изведе учинивши чудеса и знаке у земљи мисирској и у Црвеном Мору и у пустињи четрдесет година.
37Aáy là Môi-se nầy đã nói cùng con cái Y-sơ-ra-ên rằng: Đức Chúa Trời sẽ dấy lên trong hàng anh em các ngươi một đấng tiên tri giống như ta.
37Ово је Мојсије који каза синовима Израиљевим: Господ Бог ваш подигнуће вам пророка из ваше браће, као мене: њега послушајте.
38Aáy là người, trong dân hội tại nơi đồng vắng, đã ở với thiên sứ, là đấng phán cùng người trên núi Si-na-i, và với tổ phụ chúng ta, người lại nhận lấy những lời sự sống đặng trao lại cho các ngươi.
38Ово је онај што беше у цркви у пустињи с анђелом, који му говори на гори синајској, и с оцима нашим; који прими речи живе да их нама да;
39Aáy là người mà tổ phụ chúng ta không chịu vâng lời, đã bỏ người đặng nghiêng lòng về xứ Ê-díp-tô,
39ког не хтеше послушати оци наши, него га одбацише, и окренуше се срцем својим у Мисир,
40và nói với A-rôn rằng: Hãy làm các thần đi trước chúng ta; vì về phần Môi-se nầy, là người đã dẫn chúng ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chẳng biết có điều chi xảy đến cho người rồi.
40рекавши Арону: Начини нам богове који ће ићи пред нама, јер овом Мојсију, који нас изведе из земље мисирске, не знамо шта би.
41Trong những ngày đó, họ đúc một tượng bò con, dâng tế lễ cho tượng và vui mừng về việc tay mình làm nên.
41И тада начинише теле, и принесоше жртву идолу, и радоваху се рукотворини својој.
42Đức Chúa Trời bèn lìa bỏ họ, phú họ thờ lạy cơ binh trên trời, như có chép trong sách các đấng tiên tri rằng: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, vậy có phải các ngươi từng dâng con sinh và của lễ cho ta, Trong bốn mươi năm ở nơi đồng vắng,
42А Бог се окрену од њих, и предаде их да служе војницима небеским, као што је писано у књизи пророка: Еда заклања и жртве принесосте ми на четрдесет година у пустињи, доме Израиљев?
43Khi các ngươi khiêng nhà trại của Mo-lóc Và ngôi sao của thần Rom-phan, Tức là những hình tượng mà các ngươi làm ra để thờ lạy chăng? Ta cũng sẽ đày các ngươi qua bên kia Ba-by-lôn.
43И примисте чадор Молохов, и звезду бога свог Ремфана, кипове које начинисте да им се молите; и преселићу вас даље од Вавилона.
44Đền tạm chứng cớ vốn ở giữa tổ phụ chúng ta trong đồng vắng, như Chúa đã truyền lịnh cho Môi-se phải làm y theo kiểu mẫu người đã thấy.
44Очеви наши имаху чадор сведочанства у пустињи, као што заповеди Онај који говори Мојсију да га начини по оној прилици као што га виде;
45Tổ phụ chúng ta đã nhận lấy đền tạm ấy, rồi đồng đi với Giô-suê đem vào xứ họ đã chiếm lấy của các dân mà Đức Chúa Trời đã đuổi khỏi trước mặt họ; đền tạm cứ ở đó cho đến đời vua Đa-vít,
45који и примише очеви наши и донесоше с Исусом Навином у земљу незнабожаца, које отури Бог испред лица наших отаца, тја до Давида,
46là người được ơn trước mặt Đức Chúa Trời, và xin ban một chỗ ở cho Đức Chúa Trời của Gia-cốp.
46који нађе милост у Бога, и измоли да нађе место Богу Јаковљевом.
47Kế đó, vua Sa-lô-môn cất cho Chúa một cái nhà.
47А Соломун Му начини кућу.
48Nhưng Đấng Rất Cao chẳng ở trong nhà bởi tay người ta làm ra, như đấng tiên tri đã nói:
48Али највиши не живи у рукотвореним црквама, као што говори пророк:
49Chúa phán: Trời là ngai ta, Đất là bệ chân ta. Nào có nhà nào các ngươi cất cho ta, Có nơi nào cho ta yên nghỉ chăng?
49Небо је мени престо а земља подножје ногама мојим: како ћете ми кућу сазидати? Говори Господ; или које је место за моје почивање?
50Há chẳng phải tay ta đã dựng nên mọi vật nầy chăng?
50Не створи ли рука моја све ово?
51Hỡi những người cứng cổ, lòng và tai chẳng cắt bì kia! Các ngươi cứ nghịch với Đức Thánh Linh hoài; tổ-phụ các ngươi thế nào, thì các ngươi cũng thế ấy!
51Тврдоврати и необрезаних срца и ушију! Ви се једнако противите Духу Светоме; како ваши оци тако и ви.
52Há có đấng tiên tri nào mà tổ phụ các ngươi chẳng bắt bớ ư? Họ cũng đã giết những người nói tiên tri về sự đến của Đấng Công bình; và hiện bây giờ chính các ngươi lại đã nộp và giết Đấng đó;
52Ког од пророка не протераше оци ваши? И побише оне који унапред јавише за долазак праведника, ког ви сад издајници и крвници постадосте;
53các ngươi đã nhận luật pháp truyền bởi các thiên sứ, nhưng không giữ lấy!...
53који примисте закон наредбом анђеоском, и не одржасте.
54Chúng nghe những lời đó, thì giận trong lòng, và nghiến răng với Ê-tiên.
54Кад ово чуше, расрдише се врло у срцима својим, и шкргутаху зубима на њ.
55Nhưng người, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, mắt ngó chăm lên trời, thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Jêsus đứng bên hữu Đức Chúa Trời;
55А Стефан будући пун Духа Светог погледа на небо и виде славу Божју и Исуса где стоји с десне стране Богу;
56thì người nói rằng: Kìa, ta thấy các từng trời mở ra, và Con người đứng bên hữu Đức Chúa Trời.
56и рече: Ево видим небеса отворена и Сина човечијег где стоји с десне стране Богу.
57Bấy giờ, chúng kêu lớn tiếng lên, bịt lỗ tai lại, cùng nhau chạy a lại,
57А они повикавши гласно затискиваху уши своје, и навалише једнодушно на њ.
58kéo người ra ngoài thành, rồi ném đá người. Các kẻ làm chứng lấy áo xống mình để nơi chân một người trẻ tuổi kia tên là Sau-lơ.
58И изведавши га из града стадоше га засипати камењем, и сведоци хаљине своје метнуше код ногу младића по имену Савла.
59Chúng đang ném đá, thì Ê-tiên cầu nguyện rằng: Lạy Đức Chúa Jêsus, xin tiếp lấy linh hồn tôi.
59И засипаху камењем Стефана, који се мољаше Богу и говораше: Господе Исусе! Прими дух мој.
60Đoạn, người quì xuống, kêu lớn tiếng rằng: Lạy Chúa, xin đừng đổ tội nầy cho họ! Người vừa nói lời đó rồi, thì ngủ.
60Онда клече на колена и повика гласно: Господе! Не прими им ово за грех. И ово рекавши умре.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.