Sứ đồ 12
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Đang thuở đó, vua Hê-rốt hà hiếp một vài người trong Hội thánh.
1У оно пак време подиже Ирод цар руке да мучи неке од цркве.
2Vua dùng gươm giết Gia-cơ là anh của Giăng;
2И погуби Јакова брата Јовановог мачем.
3thấy điều đó vừa ý người Giu-đa, nên cũng sai bắt Phi-e-rơ nữa.
3И видевши да је то по вољи Јеврејима настави да ухвати и Петра (а беху дани пресних хлебова),
4Bấy giờ nhằm ngày ăn bánh không men. Vậy, vua bắt người và hạ ngục, phó cho bốn ngũ binh canh giữ, mỗi ngũ có bốn tên lính. Vua toan đợi lúc xong lễ Vượt Qua, thì bắt người ra hầu trước mặt dân chúng.
4ког и ухвати и баци у тамницу и предаде га четворици четвртника војничких да га чувају, и мишљаше га по пасхи извести пред народ.
5Vậy, Phi-e-rơ bị cầm trong khám, còn Hội thánh cứ cầu nguyện Đức Chúa Trời cho người luôn.
5И тако Петра чуваху у тамници; а црква мољаше се за њега Богу без престанка.
6Vả, đêm rạng ngày mà Hê-rốt định bắt Phi-e-rơ ra hầu, người đang mang hai xiềng, ngủ giữa hai tên lính, và trước cửa có quân canh giữ ngục.
6А кад хтеде Ирод да га изведе, ону ноћ спаваше Петар међу двојицом војника, окован у двоје вериге, а стражари пред вратима чуваху тамницу.
7Thình lình, một thiên sứ của Chúa đến, và có ánh sáng soi trong ngục tối. Thiên sứ đập vào sường Phi-e-rơ, đánh thức người, mà rằng: Hãy mau chờ dậy. Xiềng bèn rớt ra khỏi tay người.
7И гле, анђео Господњи приступи, и светлост обасја по соби, и куцнувши Петра у ребра пробуди га говорећи: Устани брже. И спадоше му вериге с руку.
8Kế đó, thiên sứ nói rằng: Hãy nịt lưng và mang dép vào đi. Phi-e-rơ làm theo. Thiên sứ lại tiếp: Hãy mặc áo ngoài và theo ta.
8А анђео му рече: Опаши се, и обуј опанке своје. И учини тако. И рече му анђео: Обуци хаљину своју, па хајде за мном.
9Phi-e-rơ ra theo; chẳng biết điều thiên sứ làm đó là thật, song tưởng mình thấy sự hiện thấy.
9И изишавши иђаше за њим, и не знаше да је то истина што анђео чињаше, него мишљаше да види утвару.
10Khi qua khỏi vọng canh thứ nhất, rồi vọng thứ nhì, thì đến nơi cửa sắt, là cửa thông vào thành; cửa đó tự mở ra trước mặt hai người, rồi hai người vượt ra khỏi, đi lên đàng cái, tức thì thiên sứ lìa Phi-e-rơ.
10А кад прођоше прву стражу и другу и дођоше к вратима гвозденим која вођаху у град, она им се сама отворише; и изишавши прођоше једну улицу, и анђео одмах одступи од њега.
11Phi-e-rơ bèn tỉnh lại và nói rằng: Bây giờ ta nhận biết thật Đức Chúa Trời đã sai thiên sứ Ngài giải cứu ta ra khỏi tay Hê-rốt cùng khỏi điều dân Giu-đa đang mong đợi.
11И кад дође Петар к себи рече: Сад заиста видим да Бог посла анђела свог те ме избави из руку Иродових и од свега чекања народа јеврејског.
12Người suy nghĩ lại điều đó, rồi đến nhà Ma-ri, mẹ của Giăng, cũng gọi là Mác, là nơi có nhiều người đang nhóm lại cầu nguyện.
12И размисливши дође кући Марије матере Јована који се зваше Марко, где беху многи сабрани и мољаху се Богу.
13Người gõ cửa nhà ngoài, một con đòi tên là Rô-đơ đến nghe,
13А кад куцну Петар у врата од двора, приступи девојка по имену Рода, да чује.
14nhận biết tiếng Phi-e-rơ nên mừng rỡ lắm, đến nỗi chẳng mở cửa, nhưng trở chạy vào báo tin rằng Phi-e-rơ đang đứng trước cửa.
14И познавши глас Петров од радости не отвори врата, него утрча и каза да Петар стоји пред вратима.
15Người ta nói rằng: Mầy sảng. Song nàng quyết là quả thật. Họ bèn nói: Aáy là thiên sứ của người.
15А они јој рекоше: Јеси ли ти луда? А она потврђиваше да је тако. А они говораху: Анђео је његов.
16Nhưng Phi-e-rơ cứ gõ cửa hoài. Khi mở cửa, thấy Phi-e-rơ, hết thảy đều kinh hãi.
16А Петар једнако куцаше. А кад отворише, видеше га, и удивише се.
17Nhưng người lấy tay ra dấu biểu chúng làm thinh, rồi thuật lại cho biết Chúa đã dùng cách nào cứu mình khỏi ngục; đoạn, người lại dặn rằng: Hãy cho Gia-cơ và anh em biết điều nầy. Rồi đó, người bước ra sang nơi khác.
17А он махнувши на њих руком да ћуте, каза им како га Господ изведе из тамнице; и рече јавите ово Јакову и браћи. И изишавши отиде на друго место.
18Đến sáng, trong bọn lính có sự xôn xao rất lớn: vì chúng nó chẳng hay Phi-e-rơ đi đâu.
18А кад би дан, беше не мала буна међу војницима, шта то би од Петра.
19Vua Hê-rốt sai tìm người, nhưng tìm chẳng được, bèn tra hỏi bọn lính, rồi truyền lịnh dẫn chúng nó đi giết. Đoạn, người từ xứ Giu-đê xuống thành Sê-sa-rê, ở lại tại đó.
19А кад га Ирод заиска и не нађе, онда испита стражаре, и заповеди да их одведу; и изишавши из Јудеје у Ћесарију онамо живљаше.
20Vả, vua Hê-rốt căm giận dân thành Ty-rơ và dân thành Si-đôn. Chúng đã được lòng quan hầu của vua là Ba-la-tút rồi, bèn đồng lòng đến cùng vua mà xin hòa, vì xứ họ ăn nhờ lương thực trong xứ vua.
20Јер се Ирод срђаше на Тирце и Сидонце. Али они једнодушно дођоше к њему, и узевши на своју руку Власта, постељника царевог, искаху мира, јер се њихове земље храњаху од његовог царства.
21Đến kỳ, vua Hê-rốt mặc áo chầu, ngồi trên ngai, truyền phán giữa công chúng.
21А у одређени дан обуче се Ирод у царску хаљину, и седавши на престо говораше им;
22Dân chúng kêu lên rằng: Aáy là tiếng của một thần, chẳng phải tiếng người ta đâu!
22а народ викаше: Ово је глас Божји, а не човечији.
23Liền lúc đó, có thiên sứ của Chúa đánh vua Hê-rốt, bởi cớ chẳng nhường sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời; và vua bị trùng đục mà chết.
23Али уједанпут удари га анђео Господњи: јер не даде славе Богу; и будући изједен од црви издахну.
24Bấy giờ, đạo Đức Chúa Trời tấn tới rất nhiều, càng ngày càng tràn thêm ra.
24А реч Божија растијаше и множаше се.
25Ba-na-ba và Sau-lơ làm chức vụ mình xong rồi, bèn từ thành Giê-ru-sa-lem trở về thành An-ti-ốt, dẫn theo Giăng, cũng gọi là Mác.
25А Варнава и Савле предавши помоћ вратише се из Јерусалима у Антиохију, узевши са собом Јована који се зваше Марко.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.