Sứ đồ 13
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Trong Hội thánh tại thành An-ti-ốt có mấy người tiên tri và mấy thầy giáo sư, tức là: Ba-na-ba, Si-mê-ôn gọi là Ni-giê, Lu-si-út người Sy-ren, Ma-na-hem là người đồng dưỡng với vua chư hầu Hê-rốt, cùng Sau-lơ.
1А у цркви која беше у Антиохији беху неки пророци и учитељи, то јест: Варнава и Симеун који се зваше Нигар, и Лукије Киринац, и Манаил одгајени с Иродом четворовласником, и Савле.
2Đang khi môn đồ thờ phượng Chúa và kiêng ăn, thì Đức Thánh Linh phán rằng: Hãy để riêng Ba-na-ba và Sau-lơ đặng làm công việc ta đã gọi làm.
2А кад они служаху Господу и пошћаху, рече Дух Свети: Одвојте ми Варнаву и Савла на дело на које их позвах.
3Đã kiêng ăn và cầu nguyện xong, môn đồ bèn đặt tay trên hai người, rồi để cho đi.
3Тада постивши и помоливши се Богу метнуше руке на њих, и отпустише их.
4Vậy, Sau-lơ và Ba-na-ba đã chịu Đức Thánh Linh sai đi, bèn xuống thành Sê-lơ-xi, rồi từ đó đi thuyền đến đảo Chíp-rơ.
4Ови дакле послани од Духа Светог сиђоше у Селеукију, и оданде отпловише у Кипар.
5Đến thành Sa-la-min, hai người giảng đạo Đức Chúa Trời trong các nhà hội của người Giu-đa; cũng có Giăng cùng đi để giúp cho.
5И дошавши у Саламин јавише реч Божју у зборницама јеврејским; а имаху и Јована слугу.
6Trải qua cả đảo cho đến thành Ba-phô rồi, gặp một người Giu-đa kia, là tay thuật sĩ và tiên tri giả, tên là Ba-Giê-su,
6А кад прођоше острво тја до Пафа, нађоше некаквог човека врачара, и лажног пророка, Јеврејина, коме беше име Варисус,
7vốn ở với quan trấn thủ tên là Sê-giúp Phau-lút là người khôn ngoan. Người nầy đã sai mời Ba-na-ba và Sau-lơ đến, và xin nghe đạo Đức Chúa Trời.
7који беше с намесником Срђем Павлом, човеком разумним. Овај дозвавши Варнаву и Савла заиска да чује реч Божју.
8Nhưng Ê-ly-ma, tức là thuật sĩ (ấy là ý-nghĩa tên người), ngăn hai người đó, ráng sức tìm phương làm cho quan trấn thủ không tin.
8А Елима врачар (јер то значи име његово) стаде им се супротити, гледајући да одврати намесника од вере.
9Bấy giờ, Sau-lơ cũng gọi là Phao-lô, đầy dẫy Đức Thánh Linh, đối mặt nhìn người, nói rằng:
9А Савле који се зваше и Павле, пун Духа Светог погледавши на њ
10Hỡi người đầy mọi thứ gian trá và hung ác, con của ma quỉ, thù nghịch cùng cả sự công bình, ngươi cứ làm hư đường thẳng của Chúa không thôi sao?
10рече: О напуњени сваког лукавства и сваке пакости, сине ђавољи! Непријатељу сваке правде! Зар не престајеш кварити праве путеве Господње?
11Nầy, bây giờ tay Chúa giá trên ngươi; ngươi sẽ bị mù, không thấy mặt trời trong ít lâu. Chính lúc đó, có sự mù mịt tối tăm phủ trên người, người xây quanh bốn phía, tìm kẻ để dắt mình.
11И сад ето руке Господње на те, и да будеш слеп да не видиш сунце за неко време. И уједанпут нападе на њ мрак и тама, и пипајући тражаше вођу.
12Quan trấn thủ thấy sự đã xảy đến, bèn tin, lấy làm lạ về đạo Chúa.
12Тада намесник, кад виде шта би, верова, дивећи се науци Господњој.
13Phao-lô với đồng bạn mình xuống thuyền tại Ba-phô, sang thành Bẹt-giê trong xứ Bam-phi-ly. Nhưng Giăng lìa hai người, trở về thành Giê-ru-sa-lem.
13А кад се Павле са својим друштвом одвезе из Пафа, дођоше у Пергу памфилијску; а Јован се одвоји од њих, и врати се у Јерусалим.
14Về phần hai người, thì lìa thành Bẹt-giê, cứ đi đường đến thành An-ti-ốt xứ Bi-si-đi; rồi nhằm ngày Sa-bát, vào trong nhà hội mà ngồi.
14А они отишавши из Перге дођоше у Антиохију писидијску, и ушавши у зборницу у дан суботни седоше.
15Vừa đọc sách luật và sách các tiên tri xong, các chủ nhà hội sai sứ nói cùng hai người rằng: Hỡi anh em, nếu có mấy lời khuyên bảo dân chúng, hãy giảng đi.
15А по читању закона и пророка послаше старешине зборничке к њима говорећи: Људи браћо! Ако је у вама реч утехе за народ, говорите.
16Phao-lô bèn đứng dậy, lấy tay làm hiệu, rồi nói rằng: Hỡi người Y-sơ-ra-ên và các người kính sợ Đức Chúa Trời, hãy nghe:
16А Павле уставши и махнувши руком рече: Људи Израиљци и који се Бога бојите! Чујте.
17Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên nầy đã chọn tổ phụ chúng ta; làm cho dân ấy thạnh vượng lúc ở ngụ nơi ngoại quốc, tức là trong xứ Ê-díp-tô, và Ngài dùng cánh tay cao dẫn họ ra khỏi xứ đó.
17Бог народа овог изабра оце наше, и подиже народ кад беху дошљаци у земљи мисирској, и руком високом изведе их из ње.
18Ước chừng bốn mươi năm, Ngài chịu tính nết họ trong nơi đồng vắng.
18И до четрдесет година прехрани их у пустињи.
19Lại khi đã phá bảy dân trong xứ Ca-na-an, Ngài khiến họ nhận lấy đất của các dân đó,
19И затрвши седам народа у земљи хананској на коцке раздели им земљу њихову.
20độ trong bốn trăm năm mươi năm; kế đó Ngài lập cho họ các quan đoán xét cho đến đời tiên tri Sa-mu-ên.
20И потом на четири стотине и педесет година даде им судије до Самуила пророка.
21Bấy giờ, dân đó xin một vì vua, nên Đức Chúa Trời ban Sau-lơ, con của Ki-sơ, về chi phái Bên-gia-min, trị họ trong bốn mươi năm;
21И од тада искаше цара, и даде им Бог Саула, сина Кисовог, човека од колена Венијаминовог, за четрдесет година.
22đoạn, Ngài bỏ vua đó, lại lập Đa-vít làm vua, mà làm chứng về người rằng: Ta đã tìm thấy Đa-vít con của Gie-sê, là người vừa lòng ta, người sẽ tuân theo mọi ý chỉ ta.
22И уклонивши њега подиже им Давида за цара, коме и рече сведочећи: Нађох Давида сина Јесејевог, човека по срцу мом, који ће испунити све воље моје.
23Theo lời hứa, Đức Chúa Trời bèn bởi dòng dõi người mà dấy lên cho dân Y-sơ-ra-ên một Cứu Chúa, tức là Đức Chúa Jêsus.
23Од његовог семена подиже Бог по обећању Израиљу спаса Исуса;
24Trước khi Đức Chúa Jêsus chưa đến, Giăng đã giảng dạy phép báp-tem về sự ăn năn cho cả dân Y-sơ-ra-ên.
24кад Јован пред Његовим доласком проповеда крштење покајања свему народу Израиљевом.
25Giăng đang lo làm trọn công việc mình, thì nói rằng: Ta chẳng phải là Đấng mà các ngươi tưởng; nhưng có Đấng đến sau ta, ta chẳng xứng đáng mở dây giày Ngài.
25И кад свршиваше Јован течење своје, говораше: Ко мислите да сам ја нисам ја; него ево иде за мном, коме ја нисам достојан разрешити ремен на обући Његовој.
26Hỡi anh em, là con cháu dòng Aùp-ra-ham, và kẻ kính sợ Đức Chúa Trời, lời rao truyền sự cứu chuộc nầy đã phán cho chúng ta vậy.
26Људи браћо! Синови рода Авраамовог, и који се међу вама Бога боје! Вама се посла реч овог спасења.
27Vì dân và các quan ở thành Giê-ru-sa-lem chẳng nhìn biết Đức Chúa Jêsus nầy, nên lúc xử tội Ngài, chúng đã ứng nghiệm lời của các đấng tiên tri mà người ta thường đọc trong mỗi ngày Sa-bát.
27Јер они што живе у Јерусалиму, и кнезови њихови, не познаше Овог и гласове пророчке који се читају сваке суботе, осудивши Га извршише.
28Dầu trong Ngài chẳng tìm thấy cớ gì đáng chết, họ cứ xin Phi-lát giết Ngài đi.
28И не нашавши ниједне кривице смртне молише Пилата да Га погуби.
29Họ đã làm cho ứng nghiệm mọi điều chép về Ngài rồi, thì hạ Ngài xuống khỏi thập tự giá mà chôn trong mả.
29И кад свршише све што је писано за Њега, скинуше Га с дрвета и метнуше у гроб.
30Song Đức Chúa Trời đã làm cho Ngài từ kẻ chết sống lại.
30А Бог васкрсе Га из мртвих.
31Những kẻ theo Ngài từ xứ Ga-li-lê lên thành Giê-ru-sa-lem đã được thấy Ngài lâu ngày, và hiện nay đều làm chứng về Ngài giữa dân chúng.
31И показива се много дана онима што излазише с Њим из Галилеје у Јерусалим, који су сад сведоци Његови пред народом.
32Còn chúng tôi, thì rao truyền cho các anh em tin lành nầy về lời hứa ban cho tổ phụ chúng ta,
32И ми вам јављамо обећање које би очевима нашим да је ово Бог испунио нама, деци њиховој, подигнувши Исуса;
33rằng Đức Chúa Trời bởi khiến Đức Chúa Jêsus sống lại thì đã làm ứng nghiệm lời hứa đó cho chúng ta là con cháu của tổ phụ, y như đã chép trong sách Thi thiên đoạn thứ hai rằng: Con là Con trai ta, ngày nay ta đã sanh Con.
33као што је написано и у другом псалму: Ти си мој Син, ја Те данас родих.
34Ngài đã làm cho Đức Chúa Jêsus sống lại, đặng nay khỏi trở về sự hư nát nữa, ấy về điều đó mà Ngài đã phán rằng: Ta sẽ thành tín giữ cùng các ngươi lời hứa thánh đã phán với Đa-vít.
34А да Га из мртвих васкрсе да се више не врати у труљење овако каже: Даћу вам светињу Давидову верну.
35Lại trong câu khác, cũng có phán rằng: Chúa chẳng cho Đấng Thánh Ngài thấy sự hư nát đâu.
35Зато и на другом месту говори: Нећеш дати да Твој Светац види труљење.
36Vả, vua Đa-vít lúc còn sống, làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời, đoạn qua đời; người đã được trở về cùng các tổ phụ mình, và đã thấy sự hư nát;
36Јер Давид послуживши роду свом по вољи Божјој умре, и метнуше га код отаца његових, и виде труљење.
37nhưng Đấng mà Đức Chúa Trời đã khiến sống lại, chẳng có thấy sự hư nát đâu.
37А ког Бог подиже не виде труљење.
38Vậy, hỡi anh em, khá biết rằng nhờ Đấng đó mà sự tha tội được rao truyền cho anh em;
38Тако да вам је на знање, људи браћо! Да се кроза Њ вама проповеда опроштење греха.
39lại nhờ Ngài mà hễ ai tin thì được xưng công bình về mọi điều theo luật pháp Môi-se chẳng có thể được xưng công bình.
39И од свега, од чега се не могосте оправдати у закону Мојсијевом, оправдаће се у Њему сваки који верује.
40Nên, hãy giữ lấy cho khỏi mắc đều đã chép trong sách tiên tri rằng:
40Гледајте дакле да не дође на вас оно што је казано у пророцима:
41Hỡi kẻ hay khinh dể kia, khá xem xét, sợ hãi và biến mất đi; Vì trong đời các ngươi, ta sẽ làm một việc, Nếu có ai thuật lại cho, các ngươi cũng chẳng tin.
41Видите, немарљиви! И чудите се, и нек вас нестане; јер ја чиним дело у ваше дане, дело које нећете веровати ако вам ко усказује.
42Khi hai người bước ra, chúng xin đến ngày Sa-bát sau cũng giảng luận các lời đó.
42А кад излажаху из зборнице јеврејске, мољаху незнабошци да им се ове речи у другу суботу говоре.
43Lúc hội đã tan, có nhiều người Giu-đa và người mới theo đạo Giu-đa, đi theo Phao-lô và Ba-na-ba, hai người nói chuyện với họ và khuyên cứ vững lòng theo ơn Đức Chúa Trời.
43А кад се сабор разиђе, пођоше за Павлом и за Варнавом многи од Јевреја и побожних дошљака; а они говорећи им световаху их да остану у благодати Божјој.
44Ngày Sa-bát sau, gần hết cả thành đều nhóm lại để nghe đạo Chúa.
44А у другу суботу сабра се готово сав град да чују речи Божје.
45Song những người Giu-đa thấy đoàn dân đó thì đầy lòng ghen ghét, nghịch cùng lời Phao-lô nói và mắng nhiếc người.
45А кад видеше Јевреји народ, напунише се зависти, и говораху противно речима Павловим насупрот говорећи и хулећи.
46Phao-lô và Ba-na-ba bèn nói cùng họ cách dạn dĩ rằng: Aáy cần phải truyền đạo Đức Chúa Trời trước nhất cho các ngươi; nhưng vì các ngươi đã từ chối, và tự xét mình không xứng đáng nhận sự sống đời đời, nên đây nầy, chúng ta mới xây qua người ngoại.
46А Павле и Варнава ослободивши се рекоше: Вама је најпре требало да се говори реч Божја; али кад је одбацујете, и сами се показујете да нисте достојни вечног живота, ево се обрћемо к незнабошцима.
47Vì Chúa có phán dặn chúng ta như vầy: Ta lập ngươi lên đặng làm sự sáng cho các dân, Hầu cho ngươi đem sự cứu-rỗi cho đến cùng cõi đất.
47Јер нам тако заповеди Господ: Поставих те за видело незнабошцима, да будеш спасење до самог краја земље.
48Những người ngoại nghe lời đó thì vui mừng, ngợi khen đạo Chúa, và phàm những kẻ đã được định sẵn cho sự sống đời đời, đều tin theo.
48А кад чуше незнабошци, радоваху се и слављаху реч Божју, и вероваху колико их беше приправљено за живот вечни.
49Đạo Chúa tràn ra khắp trong xứ đó.
49И реч се Божја разношаше по свој околини.
50Nhưng các người Giu-đa xui giục những đàn bà sang trọng sốt sắng và dân đàn anh trong thành; gây sự bắt bớ Phao-lô và Ba-na-ba, mà đuổi ra khỏi phần đất mình.
50Али Јевреји подговорише побожне и поштене жене и старешине градске те подигоше гоњење на Павла и Варнаву, и истераше их из своје земље.
51Hai người đối cùng họ phủi bụi nơi chân mình, rồi đi đến thành Y-cô-ni.
51А они отресавши на њих прах са својих ногу дођоше у Иконију.
52Còn các môn đồ thì được đầy dẫy sự vui vẻ và Đức Thánh Linh vậy.
52А ученици пуњаху се радости и Духа Светог.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.