II Vua 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Freedom Bible (Thai)
1Vả, có vợ của một người môn đồ của các đấng tiên tri đến phàn nàn cùng Ê-li-sê, mà rằng: Kẻ tôi tớ ông, là chồng tôi, đã qua đời; và ông biết rằng kẻ tôi tớ ông kính sợ Đức Giê-hô-va. Vả, chủ nợ người đến toan bắt hai đứa con tôi làm tôi mọi.
1หญิงคนหนึ่งในบรรดาภรรยาของเหล่าศิษย์ผู้เผยพระวจนะร้องทุกข์ต่อเอลีชาว่า “ผู้รับใช้ของท่านคือสามีของดิฉันตายแล้ว ท่านก็รู้ว่าผู้รับใช้ของท่านยำเกรงพระยาห์เวห์ แต่ตอนนี้เจ้าหนี้มาเพื่อจะเอาลูกทั้งสองคนของดิฉันไปเป็นทาส”
2Ê-li-sê nói với nàng rằng: Ta phải làm gì cho ngươi? Hãy nói cho ta biết ngươi có vật gì ở nhà? Nàng thưa rằng: Con đòi ông chẳng có gì trong nhà hơn là một hũ dầu.
2เอลีชาถามนางว่า “ข้าจะช่วยอะไรเจ้าได้? บอกข้ามาว่าในบ้านเจ้ามีอะไรบ้าง?” นางตอบว่า “ผู้รับใช้ของท่านไม่มีอะไรในบ้านเลยนอกจากน้ำมันหนึ่งไห”
3Người bèn tiếp rằng: Hãy đi ra ngoài mượn những bình không của các kẻ láng giềng ngươi, chớ mượn ít.
3เขาจึงบอกว่า “ไปขอยืมภาชนะเปล่าจากเพื่อนบ้านทุกคน อย่าขอยืมมาเพียงไม่กี่ใบ
4Khi ngươi trở về, hãy vào nhà với các con ngươi, đóng cửa lại, rồi hãy đổ dầu vào các bình đó; hễ bình nào đầy thì để nó riêng ra.
4แล้วเข้าไปในบ้าน ปิดประตูให้เหลือเพียงเจ้ากับลูกชายทั้งสองของเจ้า จากนั้นเทน้ำมันลงในภาชนะเหล่านั้นทั้งหมด ใบไหนเต็ม แล้วก็ยกออกไปไว้ต่างหาก”
5Nàng liền đi khỏi người, vào nhà với các con trai mình, đóng cửa lại; các con trai nàng đem bình lại, và nàng đổ dầu vào.
5นางจึงไปจากเขา แล้วปิดประตูอยู่กับลูกชายทั้งสอง ลูก ๆ นำภาชนะมาให้นาง ส่วนนางก็เทน้ำมันใส่
6Khi các bình đã đầy, nàng nói với con trai mình rằng: Hãy đem cho ta một bình nữa. Nhưng nó thưa rằng: Hết trơn bình rồi. Dầu bèn ngừng lại.
6เมื่อภาชนะเต็มหมดแล้ว นางพูดกับลูกชายว่า “เอาภาชนะมาให้อีกใบหนึ่ง” เขาตอบว่า “ไม่มีภาชนะเหลือแล้ว” แล้วน้ำมันก็หยุดไหล
7Bấy giờ, nàng đem việc ấy thuật cho người của Đức Chúa Trời, thì người nói rằng: Hãy đem bán dầu mà trả nợ của ngươi; đoạn, ngươi và các con trai ngươi sẽ lấy dầu còn lại mà nuôi mình.
7นางจึงไปบอกคนของพระเจ้า เขากล่าวว่า “ไปขายน้ำมันแล้วใช้หนี้เสีย ส่วนเงินที่เหลือให้เจ้ากับลูกชายใช้ดำรงชีวิต”
8Một ngày kia, Ê-li-sê đi ngang qua đất Su-nem. ỳ đó, có một người đàn bà giàu, cầm người ở lại ăn bữa. Từ ấy, mỗi khi người đi ngang qua đó, thì vào nhà người đàn bà này mà dùng bữa.
8วันหนึ่งเอลีชาเดินทางไปชูเนม ที่นั่นมีหญิงผู้มีฐานะคนหนึ่ง นางคะยั้นคะยอให้เขารับประทานอาหาร ต่อมาเมื่อใดที่เขาผ่านมาเขาก็จะแวะเข้าไปกินอาหารที่นั่น
9Người nói với chồng mình rằng: Tôi biết rằng người năng đến nhà chúng ta đây, là một người thánh của Đức Chúa Trời.
9นางพูดกับสามีว่า “ฉันรู้ว่าชายผู้นี้ที่ผ่านเราไปมาเสมอเป็นคนบริสุทธิ์ของพระเจ้า
10Xin chúng ta hãy xây cất cho người một cái phòng cao, rồi để tại đó một cái giường, một cái bàn, một cái ghế, và một cây đèn. Vậy, khi người đến nhà ta, thì sẽ ở lại đó.
10เรามาทำห้องเล็กๆบนดาดฟ้าให้เขาเถิด แล้วเอาเตียง โต๊ะ เก้าอี้ และเชิงตะเกียงไว้ในห้อง เมื่อเขามาหาเราก็จะได้พักที่นั่น”
11Một ngày kia, Ê-li-sê đi đến Su-nem, trọ nơi phòng cao, và ngủ tại đó.
11วันหนึ่ง เมื่อเอลีชามาถึง เขาขึ้นไปในห้องนั้น และนอนพัก
12Người nói với Ghê-ha-xi, tôi tớ mình, rằng: Hãy gọi người đàn bà Su-nem đó đến. Ghê-ha-xi gọi nàng; nàng ra đứng trước mặt người.
12เขาพูดกับเกหะซีผู้รับใช้ว่า “ไปเรียกหญิงชาวชูเนมคนนั้นมา” เมื่อเกหะซีเรียกนางมา นางก็มายืนอยู่ต่อหน้าเขา
13Người nói với tôi tớ mình rằng: Hãy nói cùng nàng rằng: Kìa, ngươi đã lo liệu cho chúng ta mọi điều này; vậy chúng ta phải làm gì cho ngươi? Có phải ngươi muốn ta nói giùm cho ngươi với vua hay là với quan tổng binh chăng? Nàng thưa rằng: Tôi vẫn ở giữa dân sự tôi.
13เอลีชาพูดกับเกหะซีว่า “บอกนางว่า ‘เจ้าลำบากดูแลพวกเรามากมายอย่างนี้ เราจะทำอะไรให้เจ้าได้บ้าง? เจ้าต้องการให้เราพูดกับกษัตริย์หรือผู้บัญชาการกองทัพให้หรือไม่?’” นางตอบว่า “ดิฉันอยู่ท่ามกลางคนของดิฉันเอง”
14Ê-li-sê lại tiếp: Vậy, chúng ta phải làm gì cho người? Ghê-ha-xi đáp rằng: ĩ này, người không có con trai, và chồng người đã già rồi.
14เอลีชาถามว่า “ถ้าอย่างนั้นเราจะทำอะไรให้นางได้?” เกหะซีตอบว่า “นางไม่มีลูกชายแน่นอน และสามีของนางก็แก่แล้ว”
15Ê-li-sê nói rằng: Hãy gọi nàng. Ghê-ha-xi gọi nàng, nàng đến đứng nơi cửa.
15เอลีชาจึงบอกว่า “เรียกนางมา” เมื่อเกหะซีเรียก นางก็มายืนที่ประตู
16Ê-li-sê nói với người đàn bà rằng: Năm tới, trong lúc này, ngươi sẽ ẵm một đứa con trai. Nàng thưa: Hỡi chúa tôi, là người của Đức Chúa Trời! xin chớ nói dối cùng con đòi của chúa.
16เอลีชาพูดว่า “ประมาณเวลานี้ในปีหน้าเจ้าจะได้อุ้มลูกชาย” นางตอบว่า “อย่าเลย นายของดิฉัน คนของพระเจ้า โปรดอย่าหลอกผู้รับใช้ของท่านเลย”
17Người đàn bà ấy thọ thai, và một năm sau, cũng trong lúc đó, sanh một đứa con trai, y như lời Ê-li-sê đã nói trước cho nàng.
17หญิงนั้นตั้งครรภ์ และเมื่อเวียนมาถึงช่วงเวลาเดียวกันในปีถัดมา นางก็คลอดลูกชายตามที่เอลีชาได้บอกไว้
18Xảy ra khi đứa trẻ lớn lên, một ngày kia nó đi đến cha nó nơi những người gặt lúa,
18เมื่อเด็กโตขึ้น วันหนึ่งเขาออกไปหาพ่อซึ่งอยู่กับคนเกี่ยวข้าว
19mà nói rằng: Đầu tôi đau! đầu tôi đau! Người cha biểu kẻ tôi tớ đem nó về cho mẹ nó.
19เด็กพูดกับพ่อว่า “ปวดหัว! ปวดหัว!” พ่อจึงสั่งผู้รับใช้ว่า “อุ้มเขาไปหาแม่”
20Người tôi tớ đem nó về, giao cho mẹ nó; đứa trẻ ngồi trên đầu gối của mẹ cho đến trưa, rồi chết.
20ผู้รับใช้อุ้มเด็กไปหาแม่ เด็กนั่งอยู่บนตักนางจนถึงเที่ยง แล้วก็ตาย
21Nàng bèn đi lên để nó nằm trên giường người của Đức Chúa Trời, rồi đi ra, đóng cửa lại.
21นางขึ้นไปวางเขาไว้บนเตียงของคนของพระเจ้า ปิดประตูไว้แล้วออกมา
22Kế đó, nàng kêu chồng mình mà nói rằng: Tôi xin ông cắt cho tôi một đứa đầy tớ, và một con lừa, để tôi chạy đến người của Đức Chúa Trời; đoạn, tôi sẽ trở về.
22นางเรียกสามีและพูดว่า “โปรดส่งผู้รับใช้คนหนึ่งกับลาตัวหนึ่งมาให้ฉัน ฉันจะรีบไปหาคนของพระเจ้า แล้วกลับมา”
23Chồng hỏi nàng rằng: Ngày nay chẳng phải mồng một, cũng chẳng phải ngày Sa-bát. vậy, nhân sao muốn đi đến cùng người? Nàng đáp: Mọi điều bình an.
23เขาถามว่า “วันนี้เจ้าจะไปหาเขาทำไม? วันนี้ไม่ใช่วันเดือนใหม่หรือวันสะบาโต” นางตอบว่า “ทุกอย่างเรียบร้อยดี”
24Nàng biểu thắng lừa, và nói với kẻ tôi tớ rằng: Hãy đem ta đi mau mau, nếu ta biểu ngươi mới ngừng lại.
24แล้วนางก็ผูกอานลาและพูดกับผู้รับใช้ว่า “ขับลาไปข้างหน้า อย่าชะลอฝีเท้า เพราะเห็นแก่ฉัน เว้นแต่ฉันจะบอก”
25Vậy, nàng đi đến cùng người của Đức Chúa Trời tại trên núi Cạt-mên. Người của Đức Chúa Trời thấy nàng đằng xa, bèn nói với Ghê-ha-xi, kẻ tôi tớ mình, rằng: Kìa, người đàn bà Su-nem!
25นางจึงเดินทางไปหาคนของพระเจ้าที่ภูเขาคารเมล เมื่อคนของพระเจ้าเห็นนางแต่ไกล เขาพูดกับเกหะซีผู้รับใช้ว่า “ดูสิ นั่นหญิงชาวชูเนม
26Vậy, hãy chạy đi đón nàng, và hỏi nàng rằng: Mọi việc đều bình an chăng? Chồng và con ngươi bình an chăng? Nàng đáp: Bình an.
26รีบวิ่งไปพบนางและถามว่า ‘เจ้าเป็นอย่างไรบ้าง? สามีของเจ้าเป็นอย่างไรบ้าง? ลูกของเจ้าเป็นอย่างไรบ้าง?’” นางตอบว่า “สบายดี”
27Khi nàng đến gần người của Đức Chúa Trời, tại trên núi, thì ôm lấy chân người. Ghê-ha-xi đến gần đặng xô nàng ra, nhưng người của Đức Chúa Trời nói cùng người rằng: Hãy để mặc nàng; linh hồn nàng đắng cay; Đức Giê-hô-va có giấu ta điều đó, không tỏ cho ta hay.
27เมื่อนางมาถึงคนของพระเจ้าที่เนินเขา นางก็กุมเท้าของเขาไว้ เกหะซีเข้ามาจะผลักนางออก แต่คนของพระเจ้าพูดว่า “ปล่อยนางเถิด เพราะนางทุกข์ใจอย่างยิ่ง พระยาห์เวห์ทรงปิดบังเรื่องนี้จากข้าและไม่ได้บอกข้า”
28Người đàn bà ấy bèn nói rằng: Tôi há có cầu chúa một đứa con trai sao? Tôi há chẳng có nói với chúa rằng: Xin chớ dối tôi?
28แล้วนางพูดว่า “นายของดิฉัน ดิฉันเคยขอลูกชายจากท่านหรือ? ดิฉันไม่ได้บอกท่านแล้วหรือว่า ‘อย่าหลอกดิฉัน’?”
29Ê-li-sê nói cùng Ghê-ha-xi rằng: Hãy thắt lưng ngươi, cầm gậy ta nơi tay và đi. Nếu ngươi gặp ai, chớ chào họ; nếu ai chào ngươi, chớ đáp lại. Ngươi sẽ đặt cây gậy ta trên mặt đứa trẻ.
29เอลีชาจึงพูดกับเกหะซีว่า “เหน็บชายเสื้อไว้ที่เอว ถือไม้เท้าของข้า แล้วไปเถิด หากพบใครระหว่างทางอย่าทักทายเขา และถ้ามีใครทักทายเจ้าก็อย่าตอบ แล้วเอาไม้เท้าของข้าวางบนหน้าของเด็ก”
30Người mẹ của đứa trẻ nói rằng: Tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, và chỉ mạng sống của ông mà thề, tôi chẳng hề lìa khỏi ông! Ê-li-sê bèn chổi dậy, và đi theo người.
30แต่แม่ของเด็กพูดว่า “ขอสาบานต่อพระยาห์เวห์ผู้ทรงพระชนม์อยู่และต่อชีวิตของท่านว่าดิฉันจะไม่ทิ้งท่าน” เอลีชาจึงลุกขึ้นและตามนางไป
31Ghê-ha-xi đi trước hai người, và đặt cây gậy trên mặt đứa trẻ. Nhưng người chẳng nghe một tiếng nào, cũng chẳng thấy mòi gì sống. Người trở lại đón Ê-li-sê, và thưa cùng người rằng: Đứa trẻ không tỉnh lại.
31เกหะซีไปล่วงหน้าพวกเขาและวางไม้เท้าบนหน้าของเด็ก แต่ไม่มีเสียงหรือการตอบสนอง เขาจึงกลับมาพบเอลีชาและบอกว่า “เด็กยังไม่ตื่น”
32Khi Ê-li-sê vào nhà, thấy đứa trẻ đã chết, nằm sải trên giường.
32เมื่อเอลีชาเข้าไปในบ้าน ดูสิ เด็กตายแล้ว และนอนอยู่บนเตียงของคนของพระเจ้า
33Ê-li-sê vào trong phòng, đóng cửa lại, có đứa trẻ và mình ở trong, rồi cầu nguyện cùng Đức Giê-hô-va.
33เขาจึงเข้าไปปิดประตูให้เหลือเพียงเขากับเด็ก แล้วอธิษฐานต่อพระยาห์เวห์
34Đoạn, người leo trên giường, nằm trên đứa trẻ; đặt miệng mình trên miệng nó, mắt mình trên mắt nó, và tay mình trên tay nó. Người nằm ấp trên mình nó, xác đứa trẻ bèn ấm lại.
34จากนั้นเขาขึ้นไปนอนทาบบนตัวเด็ก เอาปากของตนประกบปากเด็ก ตาต่อตา มือทาบมือ เขาเหยียดตัวทาบอยู่บนเด็ก แล้วเนื้อของเด็กก็เริ่มอุ่นขึ้น
35Ê-li-sê trở xuống, đi qua đi lại trong phòng; đoạn, leo lên giường, nằm ấp trên mình đứa trẻ nữa. Rốt lại, nó nhảy mũi bảy lần, và mở mắt ra.
35เอลีชาลงมาเดินไปกลับในบ้านหนึ่งรอบ แล้วขึ้นไปเหยียดตัวทาบเด็กอีกครั้ง เด็กจามเจ็ดครั้ง แล้วลืมตาขึ้น
36Ê-li-sê liền gọi Ghê-ha-xi mà biểu rằng: Hãy gọi người đàn bà Su-nem. Ghê-ha-xi gọi người. Khi nàng chạy đến, Ê-li-sê nói với nàng rằng: Hãy ẵm lấy con ngươi.
36เอลีชาเรียกเกหะซีและพูดว่า “ไปเรียกหญิงชาวชูเนมคนนั้นมา!” เกหะซีจึงเรียกนาง เมื่อนางเข้ามาหา เอลีชาพูดว่า “อุ้มลูกของเจ้าไปเถิด”
37Nàng bèn lại gần, sấp mình xuống dưới chân người và lạy; đoạn ẵm lấy con mình và đi ra.
37นางเข้ามาทรุดลงที่เท้าของเขา และก้มตัวลงถึงพื้น แล้วจึงอุ้มลูกชายออกไป
38Ê-li-sê trở về Ghinh-ganh. Vả, trong xứ có đói kém. Các môn đồ của những tiên tri đều ngồi trước mặt người. Người biểu kẻ tôi tớ mình rằng: Hãy bắc cái nồi lớn, nấu canh cho các môn đồ của những tiên tri.
38เอลีชากลับไปยังกิลกาล ขณะนั้นเกิดการกันดารอาหารในแผ่นดิน เหล่าศิษย์ผู้เผยพระวจนะกำลังนั่งอยู่ต่อหน้าเขา เขาจึงพูดกับผู้รับใช้ว่า “ตั้งหม้อใบใหญ่ แล้วต้มแกงให้เหล่าศิษย์ผู้เผยพระวจนะ”
39Một người trong bọn họ đi ra ngoài đồng đặng hái rau, thấy một dây rừng leo, bèn hái những dưa dại, bọc đầy vạt áo tơi mình. Khi người trở về, xắt ra từng miếng, bỏ trong nồi nấu canh, chẳng biết nó là thứ gì.
39คนหนึ่งออกไปเก็บพืชในทุ่ง เขาพบเถาป่าและเก็บลูกน้ำเต้าป่าจากเถานั้นจนเต็มชายเสื้อ แล้วกลับมาหั่นใส่หม้ออาหาร โดยไม่รู้ว่ามันคืออะไร
40Người ta múc cho các người ăn; nhưng vừa khi họ nếm canh, thì la lên rằng: Hỡi người của Đức Chúa Trời, sự chết ở trong nồi nầy! Họ ăn canh ấy không đặng.
40เมื่อพวกเขาตักให้คนเหล่านั้นกิน พอกินอาหารนั้นเข้าไปก็ร้องว่า “คนของพระเจ้า แกงหม้อนี้กินแล้วตายแน่!” แล้วพวกเขาก็กินต่อไม่ได้
41Ê-li-sê nói: Thế thì, hãy đem bột lại. Người bỏ bột trong nồi, và biểu rằng: Hãy múc cho các người ăn. Vậy, trong canh chẳng còn độc gì nữa.
41เอลีชาพูดว่า “เอาแป้งมา” เขาใส่แป้งลงในหม้อ แล้วสั่งว่า “ตักให้ทุกคนกินเถิด” และไม่มีสิ่งที่เป็นอันตรายอยู่ในหม้ออีก
42Có một người ở Ba-anh-Sa-li-sa đến, đem cho người của Đức Chúa Trời hai mươi ổ bánh lúa mạch, và lúa còn gié để trong bị mình, làm của lễ đầu mùa gặt. Ê-li-sê biểu kẻ tôi tớ mình rằng: Hãy đem phát cho các người ăn.
42มีชายคนหนึ่งมาจากบาอัลชาลิชาห์ เขานำขนมปังจากผลผลิตแรกมามอบให้คนของพระเจ้าเป็นขนมปังข้าวบาร์เลย์ยี่สิบก้อนกับรวงข้าวสดในถุง เอลีชาพูดว่า “เอาให้คนเหล่านี้กิน”
43Kẻ tôi tớ người thưa rằng: Chi! Tôi phải phát đồ này cho một trăm người sao? Nhưng Ê-li-sê đáp: Hãy phát cho họ các bánh đó, hầu cho họ ăn đi; vì Đức Giê-hô-va có phán như vầy: Người ta sẽ ăn và còn dư lại.
43ผู้รับใช้ของเขาถามว่า “ของแค่นี้จะให้ข้าเอาไปเลี้ยงคนหนึ่งร้อยคนหรือ?” แต่เอลีชาพูดว่า “เอาให้คนเหล่านี้กิน เพราะพระยาห์เวห์ตรัสว่า ‘พวกเขาจะกินและยังมีเหลือ’”
44Aáy vậy, người đặt các bánh đó trước mặt họ; họ ăn, và còn thừa lại, y như lời của Đức Giê-hô-va đã phán.
44ผู้รับใช้จึงวางอาหารไว้ต่อหน้าพวกเขา พวกเขากินและยังมีเหลือตามพระดำรัสของพระยาห์เวห์
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.