Gióp 6
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
1Gióp đáp lại rằng:
1Então Jó respondeu:
2Oâi! Chớ gì nỗi buồn tôi nhắc cân cho đúng, Và các tai nạn tôi để lên cân thăng bằng!
2“Ah, se a minha angústia fosse pesada, e toda a minha calamidade colocada na balança!
3Vì hiện giờ nó nặng hơn cát biển; Nên tại cớ ấy các lời tôi nói đại ra.
3Pois agora seria mais pesada do que a areia dos mares; por isso as minhas palavras foram precipitadas.
4Bởi vì các tên của Đấng Toàn năng trúng nhằm tôi; Tâm hồn tôi uống nọc độc của tên ấy; Sự kinh khiếp của Đức Chúa Trời dàn trận nghịch cùng tôi.
4Pois as flechas do Todo-Poderoso estão em mim. O meu espírito bebe o seu veneno. Os terrores de Deus se alinham contra mim.
5Chớ thì con lừa rừng nào kêu la khi có cỏ? Con bò nào rống khi có lương thảo?
5Por acaso o jumento selvagem zurra quando tem capim? Ou o boi muge sobre a sua forragem?
6Vật chi lạt lẽo, người ta nào ăn chẳng bỏ muối? Còn trong tròng trắng trứng gà, đâu có mùi lai gì?
6Pode o que não tem sabor ser comido sem sal? Ou há algum gosto na clara do ovo?
7Vật gì linh hồn tôi từ chối đá đến, Lại trở nên vật thực gớm ghê của tôi.
7A minha alma se recusa a tocá-los. Eles são para mim como comida repugnante.
8Oâi! Chớ gì lời sở cầu tôi được thành, Và Đức Chúa Trời ban cho tôi điều tôi ao ước!
8“Ah, se eu pudesse ter o meu pedido atendido, que Deus me concedesse aquilo que eu tanto desejo;
9Chớ chi Đức Chúa Trời đẹp lòng cà tán tôi, Buông tay Ngài ra trừ diệt tôi!
9que fosse do agrado de Deus me esmagar; que ele soltasse a sua mão e me eliminasse!
10Vậy, tôi sẽ còn được an ủi, Và trong cơn đau đớn chẳng giản, Tôi sẽ vui mừng, bởi vì không có từ chối lời phán của Đấng Thánh.
10Que isso ainda seja a minha consolação, sim, que eu exulte na dor que não poupa, de que não neguei as palavras do Santo.
11Sức lực tôi nào đủ đợi cho nỗi, Cuối cùng tôi sẽ ra sao, mà tôi lại nhẫn nhịn được?
11Qual é a minha força, para que eu espere? Qual é o meu fim, para que eu seja paciente?
12Sức tôi há là sức đá sao? Thịt tôi há dễ là đồng?
12É a minha força a força das pedras? Ou é a minha carne de bronze?
13Trong mình tôi chẳng có sự tiếp cứu, sự khôn ngoan bị cất khỏi tôi, Aáy há chẳng phải như vậy sao?
13Não é verdade que não há ajuda em mim, e que a sabedoria foi afastada de mim?
14Kẻ gần xui té, đáng được bạn bầu thương xót đến, E kẻo người bỏ sự kính sợ Đấng Toàn năng.
14“Àquele que está prestes a desfalecer, o seu amigo deveria mostrar bondade; mesmo àquele que abandona o temor do Todo-Poderoso.
15Anh em tôi dối gạt tôi như dòng khe cạn nước, Như lòng khe chảy khô.
15Meus irmãos agiram de forma enganosa como um riacho, como o leito dos riachos que desaparecem;
16Nó bị đục vì cớ nước đá, Có giá tuyết ẩn ở trong.
16que ficam escuros por causa do gelo, nos quais a neve se esconde.
17Nhưng trong khi giựt xuống, khe bèn khô cạn, Lúc nắng giọi, nó lại biến khỏi chỗ nó.
17Na estação seca, eles desaparecem. Quando faz calor, eles são consumidos do seu lugar.
18Đoàn khách đi ngang qua nó bèn tẻ tách đường, Đi vào trong Sa mạc, rồi chết mất.
18As caravanas que viajam ao lado deles se desviam. Elas sobem para o deserto, e perecem.
19Đoàn khách ở Thê-ma tìm kiếm nước nó, Các kẻ bộ hành Sê-ba nhờ cậy nó;
19As caravanas de Tema olharam. As companhias de Sabá esperaram por eles.
20Nhưng chúng bị mắc cỡ vì nhờ cậy nơi nó; Khi đến tại khe, bèn phải hổ thẹn.
20Ficaram angustiados porque estavam confiantes. Chegaram lá, e ficaram confundidos.
21Hiện nay các bạn cũng không ra gì hết; Các bạn thấy sự đáng kinh khiếp, bèn run sợ.
21Pois agora vocês não são nada. Vocês veem um terror, e ficam com medo.
22Tôi há có nói rằng: Xin cung cấp cho tôi, Trong tài sản của các bạn, xin hãy lấy lễ vật dâng cho tôi, sao?
22Por acaso eu disse alguma vez: ‘Deem-me algo’? ou: ‘Ofereçam-me um presente dos seus bens’?
23Hoặc cầu rằng: Xin hãy giải cứu tôi khỏi tay kẻ cừu địch, Và chuộc tôi khỏi tay kẻ hà hiếp ư?
23ou: ‘Livrem-me da mão do adversário’? ou: ‘Resgatem-me da mão dos opressores’?
24Hãy dạy dỗ tôi, tôi sẽ nín lặng; Xin chỉ cho tôi hiểu tôi đã lầm lỗi nơi nào.
24“Ensinem-me, e eu me calarei. Façam-me entender o meu erro.
25Lời chánh trực có sức lực dường bao! Còn lời trách móc của các bạn nào có trách được gì?
25Como são fortes as palavras de retidão! Mas a repreensão de vocês, o que ela repreende?
26Các bạn muốn trách móc tiếng nói sao? Song lời nói của một người ngã lòng chỉ như luồng gió.
26Vocês pretendem repreender palavras, sendo que os discursos de um desesperado são como o vento?
27Quả thật, các bạn xông hãm kẻ mồ côi, Và đào hầm gài bạn hữu mình.
27Sim, vocês até lançariam sortes sobre o órfão, e fariam comércio do seu amigo.
28Vậy bây giờ, nếu các bạn muốn, hãy ngó tôi, Tôi nào dám nói dối trước mặt các bạn đâu.
28Agora, portanto, por favor, olhem para mim, pois certamente não mentirei na face de vocês.
29Xin khá xét lại; chớ có sự bất công; Phải, hãy xét lại, vì duyên cớ tôi là công bình.
29Por favor, voltem atrás. Que não haja injustiça. Sim, voltem novamente. A minha causa é justa.
30Có điều bất công nơi lưỡi tôi chăng? ổ gà tôi há chẳng phân biệt điều ác sao?
30Há injustiça na minha língua? Não pode o meu paladar discernir coisas más?
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.