Gióp
Chapter 31
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Reina-Valera 1909
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Reina-Valera 1909
1Tôi đã có lập ước với mắt tôi; Vậy, làm sao tôi còn dám nhìn người nữ đồng trinh?
1HICE pacto con mis ojos: ¿cómo pues había yo de pensar en virgen?
2Vì phần do Đức Chúa Trời ở trên trời, Và cơ nghiệp do Đấng Toàn năng ở nơi cao, là gì?
2Porque ¿qué galardón me daría de arriba Dios, y qué heredad el Omnipotente de las alturas?
3Há chẳng phải sự tai họa cho kẻ gian ác, Và sự hư hại cho kẻ làm dữ sao?
3¿No hay quebrantamiento para el impío, y extrañamiento para los que obran iniquidad?
4Chớ thì Đức Chúa Trời chẳng thấy đường lối tôi, Và đếm các bước tôi sao?
4¿No ve él mis caminos, y cuenta todos mis pasos?
5Nếu tôi có ăn ở cách dối trá, Và chân tôi vội vàng theo chước gian giảo,
5Si anduve con mentira, y si mi pie se apresuró á engaño,
6Nguyện Đức Chúa Trời cân tôi trên cân thăng bằng, Thì Ngài sẽ nhìn biết sự thanh liêm của tôi.
6Péseme Dios en balanzas de justicia, y conocerá mi integridad.
7Nếu chân tôi trở bước bỏ đường chánh đáng, Và lòng tôi đi theo con mắt tôi, Nếu có sự ô uế chi dính vào tay tôi,
7Si mis pasos se apartaron del camino, y si mi corazón se fué tras mis ojos, y si algo se apegó á mis manos,
8Nguyện tôi gieo, và có kẻ khác gặt hái, Nguyện thổ sản tôi bị nhổ đi!
8Siembre yo, y otro coma, y mis verduras sean arrancadas.
9Nếu lòng tôi bị người nữ quyến dụ, Nếu tôi rình rập ở nơi cửa của lân cận tôi,
9Si fué mi corazón engañado acerca de mujer, y si estuve acechando á la puerta de mi prójimo:
10Nguyện vợ tôi xây cối cho người khác, Và có kẻ khác nằm cùng nàng.
10Muela para otro mi mujer, y sobre ella otros se encorven.
11Vì điều ấy vốn tội trọng gớm ghê, Một tội ác đáng bị quan xét đoán phạt:
11Porque es maldad é iniquidad, que han de castigar los jueces.
12Tội ấy là một ngọn lửa thiêu hóa cho đến chốn trầm luân, Tàn hại các của cải tôi đến tận cùng.
12Porque es fuego que devoraría hasta el sepulcro, y desarraigaría toda mi hacienda.
13Nếu tôi có khinh duyên cớ của tôi trai tớ gái tôi, Lúc chúng nó tranh luận với tôi,
13Si hubiera tenido en poco el derecho de mi siervo y de mi sierva, cuando ellos pleitearan conmigo,
14Thì tôi sẽ làm sao khi Đức Chúa Trời chổi dậy? Khi Ngài đến thẩm sát tôi, tôi sẽ đáp sao?
14¿Qué haría yo cuando Dios se levantase? y cuando él visitara, ¿qué le respondería yo?
15Đấng đã tạo thành tôi trong lòng mẹ tôi, Há chẳng có dựng nên chúng nó sao? Há chẳng phải cũng một Đức Chúa Trời dựng nên chúng ta trong lòng mẹ sao?
15El que en el vientre me hizo á mí, ¿no lo hizo á él? ¿y no nos dispuso uno mismo en la matriz?
16Nếu tôi từ chối điều kẻ nghèo khổ ước ao, Gây cho mắt người góa bụa bị hao mòn,
16Si estorbé el contento de los pobres, é hice desfallecer los ojos de la viuda;
17Nếu tôi có ăn bánh tôi một mình, Và kẻ mồ côi chẳng có được ăn với;
17Y si comí mi bocado solo, y no comió de él el huérfano;
18Thật từ lúc tôi còn trẻ, nó cùng lớn lên với tôi như con với cha; Còn người góa bụa, tôi đã nâng đỡ từ khi tôi lọt lòng mẹ tôi;
18(Porque desde mi mocedad creció conmigo como con padre, y desde el vientre de mi madre fuí guía de la viuda;)
19Nếu tôi có thấy người nào thác vì không quần áo, Và kẻ nghèo thiếu chẳng có mềm;
19Si he visto que pereciera alguno sin vestido, y al menesteroso sin cobertura;
20Nếu lòng người không chúc phước cho tôi, Và người không nhờ lông chiên tôi mà được ấm áp;
20Si no me bendijeron sus lomos, y del vellón de mis ovejas se calentaron;
21Nếu tôi có giơ tay hiếp kẻ mồ côi, Bởi vì tôi thấy có kẻ phù trợ tôi trong cửa thành;
21Si alcé contra el huérfano mi mano, aunque viese que me ayudarían en la puerta;
22Nguyện cho vai tôi rớt ra khỏi nơi khác, Và cánh tay tôi bị gẫy rứt ra đi!
22Mi espalda se caiga de mi hombro, y mi brazo sea quebrado de mi canilla.
23Vì sự tai họa từ Đức Chúa Trời giáng xuống làm tôi kinh khiếp, Và trước mặt sự oai nghiêm Ngài, Tôi nào làm chi được.
23Porque temí el castigo de Dios, contra cuya alteza yo no tendría poder.
24Nếu tôi có để lòng tin cậy nơi vàng, Và nói với vàng ròng rằng: Ngươi là sự nương nhờ của ta;
24Si puse en oro mi esperanza, y dije al oro: Mi confianza eres tú;
25Nếu tôi vui mừng về tài vật tôi nhiều, Và vì tay tôi đã được lắm của;
25Si me alegré de que mi hacienda se multiplicase, y de que mi mano hallase mucho;
26Nếu tôi có thấy mặt trời chiếu sáng, Và mặt trăng mọc lên soi tỏ,
26Si he mirado al sol cuando resplandecía, y á la luna cuando iba hermosa,
27Nếu lòng tôi có thầm mê hoặc, Và miệng tôi hôn gởi tay tôi;
27Y mi corazón se engañó en secreto, y mi boca besó mi mano:
28Điều đó cũng là một tội ác đáng bị quan xét phạt; Vì nếu làm vậy, tôi đã từ chối Đức Chúa Trời trên cao kia.
28Esto también fuera maldad juzgada; porque habría negado al Dios soberano.
29Nếu tôi có vui mừng vì cớ tàn hại kẻ ghét tôi, Và hứng lòng khi tai vạ giáng cho nó;
29Si me alegré en el quebrantamiento del que me aborrecía, y me regocijé cuando le halló el mal;
30Trái lại tôi không cho phép miệng tôi phạm tội, Mà lấy sự rủa sả trù ẻo, nguyện hại mạng sống nó;
30(Que ni aun entregué al pecado mi paladar, pidiendo maldición para su alma;)
31Nếu các người nhà tôi chẳng có nói: “Ai sẽ tìm được người nào không được ăn no nê thịt súc vật người?”
31Cuando mis domésticos decían: ¡Quién nos diese de su carne! nunca nos hartaríamos.
32Người lạ không có ngủ đêm ở ngoài đường; Tôi mở cửa cho kẻ hành khách;
32El extranjero no tenía fuera la noche; mis puertas abría al caminante.
33Nếu tôi có che tội mình như A-đam, Mà giấu sự gian ác mình ở trong lòng,
33Si encubrí, como los hombres mis prevaricaciones, escondiendo en mi seno mi iniquidad;
34Tại vì tôi kinh hãi chúng đông, Và e sợ bị họ hàng khinh bỉ, Đến đổi ở yên lặng, chẳng dám bước ra khỏi cửa.
34Porque quebrantaba á la gran multitud, y el menosprecio de las familias me atemorizó, y callé, y no salí de mi puerta:
35Oâi! Chớ chi có một người nghe tôi! Nầy là dấu hiệu tôi ký, Nguyện Đấng Toàn năng đáp lời tôi; Nguyện kẻ cừu nghịch tôi làm một trạng từ!
35¡Quién me diera quien me oyese! He aquí mi impresión es que el Omnipotente testificaría por mí, aunque mi adversario me hiciera el proceso.
36Tôi quả hẳn sẽ mang trạng từ ấy trên vai mình, Đội nó trên đầu tôi như một mão triều thiên.
36Ciertamente yo lo llevaría sobre mi hombro, y me lo ataría en lugar de corona.
37Aét tôi sẽ thuật cho cừu địch biết số bước tôi, Đến trước mặt nó như một vua chúa.
37Yo le contaría el número de mis pasos, y como príncipe me llegaría á él.
38Nếu đất tôi kêu cáo tôi, Các giòng cày nó khóc với nhau;
38Si mi tierra clama contra mí, y lloran todos sus surcos;
39Nếu tôi ăn sản vật nó mà không trả giá bạc, Làm khuấy khuất nguyên chủ nó cho đến phải chết mất;
39Si comí su sustancia sin dinero, ó afligí el alma de sus dueños;
40Nguyện gai góc mọc thay lúa miến, Và cỏ lùng thế cho lúa mạch! Đến đây hết lời của Gióp.
40En lugar de trigo me nazcan abrojos, y espinas en lugar de cebada. Acábanse las palabras de Job.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.