Quan
Chapter 8
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Freedom Bible (Thai)
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Freedom Bible (Thai)
1Người Eùp-ra-im bèn nói cùng Ghê-đê-ôn rằng: Vì sao ông đã đãi chúng tôi như vậy? Khi ông đi giao chiến cùng dân Ma-đi-an, sao không gọi chúng tôi đi với? Chúng cãi cùng người cách dữ dội.
1ชาย​ชาว​เอฟราอิม​ต่อว่า​กิเดโอน​ว่า “ทำไม​ท่าน​จึง​ทำ​กับ​เรา​เช่น​นี้ ไม่​เรียก​เรา​ไป​ด้วย​ตอน​ที่​ท่าน​ออก​ไป​รบ​กับ​ชาว​มีเดียน?” พวก​เขา​ตำหนิ​เขา​อย่าง​รุนแรง
2Nhưng người đáp cùng chúng rằng: Sánh với anh em, tôi há có làm được điều chi? Sự mót nho của Eùp-ra-im há chẳng hơn mùa gặt nho của A-bi-ê-xe sao?
2เขา​ตอบ​ว่า “สิ่ง​ที่​เรา​ทำ​จะ​เทียบ​กับ​พวก​ท่าน​ได้​อย่างไร? องุ่น​ที่​เอฟราอิม​เก็บตก​ยัง​ดี​กว่า​องุ่น​ที่​อาบีเอเซอร์​เก็บ​ได้​ทั้ง​ฤดู​ไม่​ใช่​หรือ?
3Đức Chúa Trời đã phó Ô-rép và Xê-ép là hai quan trưởng dân Ma-đi-an, vào tay anh em. Đem sánh với anh em, tôi nào có làm được điều gì? Khi người nói lời ấy rồi, cơn giận của chúng bèn nguôi.
3พระเจ้า​ทรง​มอบ​โอเรบ​กับ​เศเอบ ผู้ปกครอง​ของ​มีเดียน ให้​อยู่​ใน​อำนาจ​ของ​พวก​ท่าน​แล้ว เรา​ทำ​อะไร​เทียบ​กับ​พวก​ท่าน​ได้​เล่า?” เมื่อ​เขา​พูด​เช่น​นั้น ความ​โกรธ​ของ​พวก​เขา​ที่​มี​ต่อ​เขา​ก็​คลาย​ลง
4Ghê-đê-ôn đi tới sông Giô-đanh, sang qua cùng ba trăm người đồng theo mình; dẫu mệt nhọc, họ cũng cứ rượt theo quân nghịch.
4กิเดโอน​มา​ถึง​แม่น้ำ​จอร์แดน​และ​ข้าม​ไป​พร้อม​กับ​ชาย​สาม​ร้อย​คน​ที่​อยู่​กับ​เขา แม้​เหนื่อย​อ่อน​ก็​ยัง​ไล่​ตาม​ต่อ​ไป
5Người bèn nói cùng dân Su-cốt rằng: Ta xin các ngươi hãy cấp một vài ổ bánh cho dân theo ta, vì chúng mệt nhọc; ta đang đuổi theo Xê-bách và Xanh-mu-na, hai vua Ma-đi-an.
5เขา​พูด​กับ​ชาว​สุคคท​ว่า “โปรด​ให้​ขนม​ปัง​แก่​คน​ที่​ติดตาม​เรา เพราะ​พวก​เขา​เหนื่อย​อ่อน และ​เรา​กำลัง​ไล่​ตาม​เศบาห์​กับ​ศัลมุนนา กษัตริย์​แห่ง​มีเดียน”
6Nhưng các quan trưởng Su-cốt đáp rằng: Chớ thì ông đã cầm nơi tay mình cườm tay của Xê-bách và Xanh-mu-na chưa, nên chúng tôi phải cấp bánh cho đạo binh ông?
6บรรดา​ผู้ปกครอง​ของ​สุคคท​ตอบ​ว่า “ตอน​นี้​เศบาห์​กับ​ศัลมุนนา​ตก​อยู่​ใน​เงื้อมมือ​ท่าน​แล้ว​หรือ เรา​จึง​ควร​ให้​อาหาร​แก่​กองทัพ​ของ​ท่าน?”
7Ghê-đê-ôn la lên rằng: Thế thì, khi Đức Giê-hô-va đã phó Xê-bách và Xanh-mu-na vào tay ta, ta sẽ lấy chông đồng vắng và nhánh gai mà đánh thịt các ngươi!
7กิเดโอน​ตอบ​ว่า “เพราะ​เหตุ​นี้ เมื่อ​พระยาห์เวห์​ทรง​มอบ​เศบาห์​กับ​ศัลมุนนา​ให้​อยู่​ใน​อำนาจ​ของ​เรา เรา​จะ​ใช้​หนาม​จาก​ถิ่น​ทุรกันดาร​และ​พุ่ม​หนาม​คราด​เนื้อ​พวก​เจ้า”
8Từ đó, người đi lên đến Phê-nu-ên và cũng nói một cách ấy với dân Phê-nu-ên. Dân Phê-nu-ên đáp cùng người y như dân Su-cốt đã đáp.
8จาก​ที่​นั่น​เขา​ขึ้น​ไป​เปนูเอล​และ​ขอ​เช่น​เดียวกัน ชาว​เปนูเอล​ก็​ตอบ​เขา​เหมือน​ชาว​สุคคท
9Vậy, người cũng nói với dân Phê-nu-ên rằng: Khi ta trở về bình an, ắt sẽ phá hủy cái tháp nầy.
9เขา​จึง​บอก​ชาว​เปนูเอล​ว่า “เมื่อ​เรา​กลับ​มา​อย่าง​ปลอดภัย เรา​จะ​พัง​หอคอย​นี้”
10Xê-bách và Xanh-mu-na ở tại Cạt-cô với quân binh mình, số chừng mười lăm ngàn người, là kẻ còn sót lại trong đạo binh của các người phương Đông; vì một trăm hai mươi ngàn người có tài cầm gươm đã bị giết.
10เศบาห์​กับ​ศัลมุนนา​อยู่​ที่​คาร์โคร์​กับ​กองทัพ​ประมาณ​หนึ่ง​หมื่น​ห้า​พัน​คน คือ​คน​ที่​เหลือ​ทั้งหมด​จาก​กองทัพ​ของ​ชน​ชาว​ตะวัน​ออก เพราะ​นักรบ​ผู้​ชัก​ดาบ​สู้​ล้ม​ตาย​ไป​หนึ่ง​แสน​สอง​หมื่น​คน​แล้ว
11Ghê-đê-ôn đi lên theo đường của những dân ở dưới trại, tại hướng đông Nô-bách và Giô-bê-ha, đánh bại đạo binh vẫn tưởng rằng mình bình an vô-sự.
11กิเดโอน​ขึ้น​ไป​ตาม​ทาง​ของ​ผู้​ที่​อาศัย​ใน​เต็นท์ ทาง​ตะวัน​ออก​ของ​โนบาห์​กับ​โยกเบฮาห์ แล้ว​โจมตี​กองทัพ​ขณะ​ที่​พวก​เขา​ไม่​ทัน​ระวัง​ตัว
12Khi Xê-bách và Xanh-mu-na chạy trốn, người đuổi theo bắt được hai vua Ma-đi-an, là Xê-bách và Xanh-mu-na, và đánh cả đạo binh vỡ chạy.
12เศบาห์​กับ​ศัลมุนนา​หนี​ไป กิเดโอน​ก็​ไล่​ตาม จับ​กษัตริย์​ทั้ง​สอง​แห่ง​มีเดียน​คือ​เศบาห์​กับ​ศัลมุนนา​ได้ และ​ทำให้​กองทัพ​ทั้งหมด​แตกตื่น
13Đoạn, Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, ở trận trở về qua dốc Hê-re,
13กิเดโอน​บุตร​โยอาช​กลับ​จาก​การ​รบ​ทาง​ขึ้น​เฮเรส
14bắt một đứa con trai trẻ ở Su-cốt, tra hỏi nó, rồi nó viết khai tên những quan trưởng và trưởng lão của Su-cốt, số được bảy mươi bảy người.
14เขา​จับ​ชาย​หนุ่ม​ชาว​สุคคท​คน​หนึ่ง​มา​สอบถาม ชาย​หนุ่ม​บอก​รายละเอียด​เกี่ยว​กับ​บรรดา​ผู้ปกครอง​และ​ผู้​อาวุโส​ของ​สุคคท​ให้​เขา รวม​เจ็ด​สิบ​เจ็ด​คน
15Kế đó, người đến cùng dân Su-cốt, mà nói rằng: Nầy Xê-bách và Xanh-mu-na mà các ngươi đã mắng ta rằng: Chớ thì ông đã cầm cườm tay Xê-bách và Xanh-mu-na nơi tay mình chưa, nên chúng tôi phải cấp bánh cho dân mệt nhọc của ông?
15กิเดโอน​มา​หา​ชาว​สุคคท​และ​กล่าว​ว่า “ดู​เศบาห์​กับ​ศัลมุนนา​นี่​สิ พวก​เจ้า​หยาม​เรา​ถึง​พวก​เขา​ว่า ‘ตอน​นี้​เศบาห์​กับ​ศัลมุนนา​ตก​อยู่​ใน​เงื้อมมือ​ท่าน​แล้ว​หรือ เรา​จึง​ควร​ให้​อาหาร​แก่​คน​เหนื่อย​อ่อน​ของ​ท่าน?’”
16Vậy, người bắt các trưởng lão của thành, lấy chông gai nơi đồng vắng mà đánh phạt những người Su-cốt;
16เขา​จับ​บรรดา​ผู้​อาวุโส​ของ​เมือง แล้ว​ใช้​หนาม​จาก​ถิ่น​ทุรกันดาร​และ​พุ่ม​หนาม​สั่งสอน​ชาว​สุคคท
17cũng phá hủy tháp Phê-nu-ên và giết những người của thành ấy.
17เขา​พัง​หอคอย​เปนูเอล​และ​ฆ่า​ชาว​เมือง
18Đoạn, người nói cùng Xê-bách và Xanh-mu-na rằng: Các người kia mà hai ngươi đã giết tại Tha-bô là làm sao? Hai vua đáp: Chúng nó cũng như ngươi; mỗi người đều có hình vóc như một hoàng tử.
18จาก​นั้น​เขา​ถาม​เศบาห์​กับ​ศัลมุนนา​ว่า “คน​ที่​พวก​เจ้า​ฆ่า​ที่​ทาโบร์​มี​ลักษณะ​อย่างไร?” พวก​เขา​ตอบ​ว่า “เหมือน​ท่าน ทุก​คน​มี​รูปร่าง​เหมือน​บุตร​ของ​กษัตริย์”
19Người tiếp: Aáy là anh em ta, con của mẹ ta. Quả thật, ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, nếu hai ngươi đã để anh em ta sống, thì nay ta không giết hai ngươi!
19เขา​กล่าว​ว่า “คน​เหล่า​นั้น​เป็น​พี่น้อง​ร่วม​มารดา​ของ​เรา พระยาห์เวห์​ทรง​พระ​ชนม์​อยู่​แน่​ฉัน​ใด ถ้า​พวก​เจ้า​ไว้​ชีวิต​พวก​เขา เรา​ก็​จะ​ไม่​ฆ่า​พวก​เจ้า​แน่​ฉัน​นั้น”
20Đoạn, Ghê-đê-ôn nói cùng Giê-the, con đầu lòng mình, mà rằng: Hãy chổi dậy, giết họ đi. Nhưng người trẻ chẳng rút gươm ra vì sợ: người vẫn còn thiếu niên.
20แล้ว​เขา​บอก​เยเธอร์​บุตร​หัว​ปี​ว่า “ลุก​ขึ้น​ฆ่า​พวก​เขา!” แต่​ชาย​หนุ่ม​ไม่​ชัก​ดาบ เพราะ​ยัง​เด็ก​และ​กลัว
21Xê-bách và Xanh-mu-na nói: Chính ngươi hãy chổi dậy và đánh chúng ta đi; vì hễ người thể nào thì sức thể ấy. Ghê-đê-ôn bèn chổi dậy, giết Xê-bách và Xanh-mu-na; đoạn lấy đồ trang sức hình như trăng lưỡi liềm ở nơi cổ lạc đà của hai vua.
21เศบาห์​กับ​ศัลมุนนา​จึง​บอก​ว่า “ท่าน​ลุก​ขึ้น​ฆ่า​เรา​เอง เพราะ​ชาย​ผู้ใหญ่​ย่อม​มี​กำลัง​พอ​จะ​ลงมือ” กิเดโอน​จึง​ลุก​ขึ้น​ฆ่า​เศบาห์​กับ​ศัลมุนนา แล้ว​เอา​เครื่องประดับ​รูป​จันทร์​เสี้ยว​ที่​คอ​อูฐ​ของ​พวก​เขา​ไป
22Bấy giờ, những người Y-sơ-ra-ên nói cùng Ghê-đê-ôn rằng: Xin ông, con trai, và cháu ông hãy quản trị chúng tôi, vì ông đã giải cứu chúng tôi khỏi tay dân Ma-đi-an.
22ชาย​อิสราเอล​พูด​กับ​กิเดโอน​ว่า “ขอ​ท่าน​ปกครอง​เรา ทั้ง​ตัว​ท่าน บุตร และ​หลาน​ของ​ท่าน เพราะ​ท่าน​ช่วย​เรา​ให้​พ้น​จาก​อำนาจ​ของ​ชาว​มีเดียน”
23Nhưng Ghê-đê-ôn đáp cùng chúng rằng: Ta chẳng quản trị các ngươi, con trai ta cũng không quản trị các ngươi đâu; Đức Giê-hô-va sẽ quản trị các ngươi.
23กิเดโอน​ตอบ​ว่า “เรา​จะ​ไม่​ปกครอง​พวก​ท่าน และ​บุตร​ของ​เรา​ก็​จะ​ไม่​ปกครอง​พวก​ท่าน พระยาห์เวห์​จะ​ทรง​ปกครอง​พวก​ท่าน”
24Đoạn, Ghê-đê-ôn nói cùng chúng rằng: Ta chỉ xin các ngươi một điều nầy, là mỗi người trong các ngươi phải giao cho ta những vòng mình đã đoạt lấy. (Vả, quân nghịch có những vòng vàng, vì chúng nó vốn là dân ỗch-ma-ên).
24แล้ว​กิเดโอน​กล่าว​ว่า “เรา​มี​เรื่อง​หนึ่ง​จะ​ขอ ขอ​ให้​พวก​ท่าน​แต่ละ​คน​มอบ​ตุ้มหู​จาก​ของ​ที่​ริบ​มา​ให้​เรา” (คน​เหล่า​นั้น​มี​ตุ้มหู​ทองคำ​เพราะ​เป็น​ชาว​อิชมาเอล)
25Chúng đáp: Chúng tôi sẵn lòng giao cho ông. Họ trải một áo tơi ra, rồi hết thảy đều ném vào đó những vòng của mình đã đoạt lấy.
25พวก​เขา​ตอบ​ว่า “เรา​ยินดี​มอบ​ให้” แล้ว​ปู​เสื้อ​คลุม​ลง แต่ละ​คน​โยน​ตุ้มหู​จาก​ของ​ที่​ริบ​มา​ไว้​บน​นั้น
26Những vòng vàng mà Ghê-đê-ôn đã xin, cân được một ngàn bảy trăm siếc-lơ vàng, không kể những đồ trang sức hình như trăng lưỡi liềm, hoa tai, và áo sắc điều của vua Ma-đi-an thường mặc, cùng những kiềng nơi cổ lạc đà.
26ตุ้มหู​ทองคำ​ที่​กิเดโอน​ขอ​มี​น้ำหนัก​หนึ่ง​พัน​เจ็ด​ร้อย​เชเขล นอกเหนือ​จาก​เครื่องประดับ​รูป​จันทร์​เสี้ยว จี้ เสื้อ​ผ้า​สี​ม่วง​ที่​กษัตริย์​แห่ง​มีเดียน​สวม และ​สร้อย​ที่​คอ​อูฐ
27Ghê-đê-ôn lấy vật đó làm một cái ê-phót, để trong thành mình tại Oùp-ra. Cả Y-sơ-ra-ên đều cúng thờ cái ê-phót đó; nó trở thành một cái bẫy cho Ghê-đê-ôn và cả nhà người.
27กิเดโอน​นำ​ทองคำ​นั้น​ไป​ทำ​เป็น​เอโฟด​และ​ตั้ง​ไว้​ใน​เมือง​โอฟราห์​ของ​ตน ชาว​อิสราเอล​ทั้งหมด​นอกใจ​พระเจ้า​และ​หัน​ไป​กราบ​ไหว้​เอโฟด​นั้น​ที่​นั่น มัน​จึง​กลาย​เป็น​บ่วง​ดัก​กิเดโอน​กับ​ครอบครัว​ของ​เขา
28Dân Ma-đi-an bị phục trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, chẳng cất đầu lên được nữa; nên trong đời Ghê-đê-ôn, xứ được hòa bình trọn bốn mươi năm.
28ชาว​มีเดียน​ถูก​ปราบ​ต่อ​หน้า​ชาว​อิสราเอล​และ​ไม่​อาจ​เงย​หน้า​ขึ้น​ได้​อีก แผ่นดิน​สงบ​อยู่​สี่​สิบ​ปี​ใน​สมัย​กิเดโอน
29Giê-ru-ba-anh, con trai Giô-ách, trở về và ở trong nhà mình.
29เยรุบบาอัล​บุตร​โยอาช​กลับ​ไป​อาศัย​ใน​บ้าน​ของ​ตน
30Vả, Ghê-đê-ôn sanh được bảy mươi con trai, vì người có nhiều vợ.
30กิเดโอน​มี​บุตร​ชาย​ที่​เกิด​จาก​เขา​เอง​เจ็ด​สิบ​คน เพราะ​เขา​มี​ภรรยา​หลาย​คน
31Vợ lẽ người ở tại Si-chem, cũng sanh cho người một con trai đặt tên là A-bi-mê-léc.
31ภรรยา​น้อย​ของ​เขา​ที่​อยู่​ใน​เชเคม​ก็​คลอด​บุตร​ชาย​ให้​เขา​คน​หนึ่ง เขา​ตั้ง​ชื่อ​ว่า​อาบีเมเลค
32Đoạn, Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, qua đời, tuổi tác đã cao, được chôn trong mả của Giô-ách, cha người, tại Oùp-ra, là thành dân A-bi-ê-xê-rít.
32กิเดโอน​บุตร​โยอาช​เสีย​ชีวิต​เมื่อ​แก่​ชรา​และ​มี​อายุ​ยืน แล้ว​ถูก​ฝัง​ไว้​ใน​สุสาน​ของ​โยอาช​บิดา​ของ​เขา​ที่​โอฟราห์​ของ​ชาว​อาบีเอเซอร์
33Sau khi Ghê-đê-ôn qua đời, dân Y-sơ-ra-ên trở lại hành dâm cùng các Ba-anh, và chọn Ba-anh-Bê-rít làm thần.
33ทันที​ที่​กิเดโอน​เสีย​ชีวิต ชาว​อิสราเอล​ก็​หัน​กลับ​ไป​นอกใจ​พระเจ้า​และ​นับถือ​บรรดา​พระบาอัล แล้ว​ตั้ง​พระบาอัลเบรีท​เป็น​เทพเจ้า​ของ​ตน
34Như vậy, dân Y-sơ-ra-ên không nhớ đến Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, là Đấng đã giải cứu họ khỏi tay các kẻ thù nghịch ở chung quanh;
34ชาว​อิสราเอล​ไม่​ได้​ระลึก​ถึง​พระยาห์เวห์​พระเจ้า​ของ​ตน ผู้​ทรง​ช่วย​พวก​เขา​ให้​พ้น​จาก​อำนาจ​ของ​ศัตรู​รอบ​ด้าน
35và cũng không có lòng thảo chút nào với nhà Giê-ru-ba-anh, là Ghê-đê-ôn, về các ơn mà người đã làm cho Y-sơ-ra-ên.
35และ​ไม่​ได้​แสดง​ความ​เมตตา​ต่อ​ครอบครัว​ของ​เยรุบบาอัล​คือ​กิเดโอน ให้​สม​กับ​ความ​ดี​ทั้งหมด​ที่​เขา​เคย​ทำ​แก่​อิสราเอล

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.