Quan 6
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Freedom Bible (Thai)
1Dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay dân Ma-đi-an trong bảy năm.
1ชาวอิสราเอลทำสิ่งชั่วร้ายในสายพระเนตรของพระยาห์เวห์ พระยาห์เวห์จึงทรงมอบพวกเขาให้อยู่ใต้อำนาจของชาวมีเดียนเป็นเวลาเจ็ดปี
2Tay của người Ma-đi-an thắng hơn Y-sơ-ra-ên. Vì sợ người Ma-đi-an, nên dân Y-sơ-ra-ên làm cho mình những nơi ẩn náu trong núi, trong các hầm và đồn.
2ชาวมีเดียนมีอำนาจเหนืออิสราเอล ชาวอิสราเอลจึงทำที่หลบภัยตามภูเขา ทั้งโพรง ถ้ำ และที่มั่น
3Khi Y-sơ-ra-ên đã gieo giống, dân Ma-đi-an với dân A-mê-léc, và người phương Đông đi lên đánh Y-sơ-ra-ên,
3ทุกครั้งที่อิสราเอลหว่านพืช ชาวมีเดียน ชาวอามาเลข และชนชาวตะวันออกจะยกมาโจมตี
4đóng trại đối ngang người, phá hại mùa màng của xứ cho đến Ga-xa, và không để lại trong Y-sơ-ra-ên lương thực gì, hoặc chiên, bò hay là lừa.
4พวกเขาตั้งค่ายสู้กับอิสราเอลและทำลายผลผลิตของแผ่นดินไปจนถึงกาซา ไม่เหลือเสบียงอาหารไว้ในอิสราเอล ทั้งไม่เหลือแกะ วัว หรือลา
5Vì chúng nó đi lên đem theo bầy súc vật và trại mình, loán đến khác nào một đám cào cào. Người và lạc đà vô số đến trong xứ đặng phá hại.
5เพราะพวกเขายกมากับฝูงสัตว์และเต็นท์ มีจำนวนมากมายราวกับฝูงตั๊กแตน ทั้งผู้คนและอูฐนับไม่ถ้วน พวกเขาเข้ามาในแผ่นดินเพื่อทำลายแผ่นดินนั้น
6Vậy, vì cớ dân Ma-đi-an, Y-sơ-ra-ên bị nghèo khổ bẩn chật, nên họ kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va.
6อิสราเอลยากแค้นอย่างยิ่งเพราะชาวมีเดียน ชาวอิสราเอลจึงร้องทูลพระยาห์เวห์
7Bấy giờ, vì dân Y-sơ-ra-ên đã kêu cầu Đức Giê-hô-va về việc dân Ma-đi-an,
7เมื่อชาวอิสราเอลร้องทูลพระยาห์เวห์เพราะชาวมีเดียน
8nên Đức Giê-hô-va sai một đấng tiên tri đến cùng dân Y-sơ-ra-ên. Người nói cùng chúng rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Ta đã đem các ngươi lên khỏi xứ Ê-díp-tô, rút các ngươi khỏi nhà nô lệ,
8พระยาห์เวห์ทรงส่งผู้เผยสารจากพระเจ้าคนหนึ่งมาหาชาวอิสราเอล เขากล่าวว่า “พระยาห์เวห์พระเจ้าแห่งอิสราเอลตรัสดังนี้ ‘เรานำพวกเจ้าขึ้นมาจากอียิปต์ และนำออกจากแดนทาส
9giải cứu các ngươi khỏi tay người Ê-díp-tô, và khỏi tay hết thảy kẻ hà hiếp các ngươi, và đuổi chúng nó khỏi trước mặt các ngươi; ta đã ban cho các ngươi xứ của chúng nó,
9เราช่วยพวกเจ้าให้พ้นจากอำนาจของชาวอียิปต์และทุกคนที่กดขี่พวกเจ้า เราขับไล่พวกเขาออกไปจากพวกเจ้าและมอบแผ่นดินของพวกเขาให้พวกเจ้า
10và có phán rằng: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, chớ sợ các thần của dân A-mô-rít tại trong xứ mà các ngươi ở. Nhưng các ngươi nào có nghe tiếng ta!
10เราบอกพวกเจ้าว่า “เราคือพระยาห์เวห์พระเจ้าของพวกเจ้า อย่าเกรงกลัวเทพเจ้าของชาวอาโมไรต์ซึ่งพวกเจ้าอาศัยอยู่ในแผ่นดินของพวกเขา” แต่พวกเจ้าไม่ฟังเสียงของเรา’”
11Đoạn, thiên sứ của Đức Giê-hô-va đến ngồi dưới cây thông Oùp-ra thuộc về Giô-ách, người A-bi-ê-xê-rít. Ghê-đê-ôn, con trai người, đang đập lúa mạch trong bàn ép, đặng giấu khỏi dân Ma-đi-an.
11ทูตของพระยาห์เวห์มานั่งใต้ต้นโอ๊กที่โอฟราห์ ซึ่งเป็นของโยอาชชาวอาบีเอเซอร์ กิเดโอนบุตรของเขากำลังนวดข้าวสาลีในบ่อย่ำองุ่นเพื่อซ่อนจากชาวมีเดียน
12Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện đến cùng người mà rằng: Hỡi người dõng sĩ! Đức Giê-hô-va ở cùng ngươi.
12ทูตของพระยาห์เวห์ปรากฏแก่เขาและกล่าวว่า “นักรบผู้กล้าหาญเอ๋ย พระยาห์เวห์สถิตกับเจ้า!”
13Ghê-đê-ôn thưa rằng: Oâi! Chúa, nếu Đức Giê-hô-va ở cùng chúng tôi, sao các điều nầy xảy đến cho chúng tôi? Các phép lạ kia ở đâu mà tổ phụ chúng tôi đã thuật lại rằng: Đức Giê-hô-va há chẳng có đem chúng ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô sao? Vì bây giờ Đức Giê-hô-va từ bỏ chúng tôi, và phó chúng tôi vào tay dân Ma-đi-an.
13กิเดโอนตอบว่า “นายท่าน ถ้าพระยาห์เวห์สถิตกับเรา เหตุใดเรื่องทั้งหมดนี้จึงเกิดขึ้นกับเรา? การอัศจรรย์ทั้งสิ้นของพระองค์ที่บรรพบุรุษเล่าให้เราฟังอยู่ที่ไหน? พวกเขากล่าวว่า ‘พระยาห์เวห์ทรงนำเราขึ้นมาจากอียิปต์ไม่ใช่หรือ?’ แต่บัดนี้พระยาห์เวห์ทรงทอดทิ้งเรา และมอบเราให้อยู่ใต้อำนาจของชาวมีเดียน”
14Đức Giê-hô-va xây lại cùng người mà phán rằng: Hãy dùng sức của ngươi vẫn có mà đi giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay dân Ma-đi-an. Ta há chẳng sai ngươi đi sao?
14พระยาห์เวห์หันมามองเขาและตรัสว่า “จงไปด้วยกำลังที่เจ้ามีและช่วยอิสราเอลให้พ้นจากอำนาจของชาวมีเดียน เราเป็นผู้ส่งเจ้าไปไม่ใช่หรือ?”
15Người thưa rằng: Than ôi! hỡi Chúa, tôi sẽ lấy chi giải cứu Y-sơ-ra-ên? Kìa, trong chi phái Ma-na-se, họ tôi vốn nghèo hơn hết; còn tôi là nhỏ hơn hết trong nhà cha tôi.
15เขาทูลว่า “ข้าแต่องค์พระผู้เป็นเจ้า ข้าพเจ้าจะช่วยอิสราเอลได้อย่างไร? ตระกูลของข้าพเจ้ายากจนที่สุดในมนัสเสห์ และข้าพเจ้าก็ต่ำต้อยที่สุดในบ้านของบิดา”
16Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta sẽ ở cùng ngươi, và ngươi sẽ đánh bại dân Ma-đi-an như đánh một người vậy.
16พระยาห์เวห์ตรัสกับเขาว่า “เราจะอยู่กับเจ้าอย่างแน่นอน และเจ้าจะตีชาวมีเดียนทั้งหมดได้เหมือนตีคนเพียงคนเดียว”
17Ghê-đê-ôn thưa lại rằng: Nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin ban cho tôi một dấu rằng chính Chúa phán cùng tôi.
17เขาทูลว่า “ถ้าข้าพเจ้าได้รับความโปรดปรานในสายตาของท่าน โปรดให้หมายสำคัญแก่ข้าพเจ้าว่าท่านเองเป็นผู้พูดกับข้าพเจ้า
18Xin chớ dan khỏi đây cho đến khi tôi trở lại cùng Ngài, đem của lễ tôi, để trước mặt Ngài. Ngài đáp: Ta sẽ ở đây cho đến khi ngươi trở lại.
18โปรดอย่าไปจากที่นี่จนกว่าข้าพเจ้าจะกลับมาหาท่าน นำของกำนัลออกมาวางต่อหน้าท่าน” ท่านตอบว่า “เราจะรอจนกว่าเจ้าจะกลับมา”
19Ghê-đê-ôn bèn đi vô, dọn sẵn một con dê con, lấy một ê-pha bột làm những bánh nhỏ không men. Người để thịt trong rổ, đổ nước thịt vào nồi, rồi đem ra dâng các món ấy cho Ngài ở dưới cây thông.
19กิเดโอนเข้าไปเตรียมลูกแพะหนึ่งตัวกับขนมปังไร้เชื้อจากแป้งหนึ่งเอฟาห์ เขาใส่เนื้อในตะกร้า ใส่น้ำแกงในหม้อ แล้วนำออกมาให้ท่านใต้ต้นโอ๊ก
20Thiên sứ của Đức Chúa Trời phán rằng: Hãy lấy thịt và bánh nhỏ không men, để trên hòn đá nầy, rồi đổ nước thịt ra. Ghê-đê-ôn bèn làm như vậy.
20ทูตของพระเจ้าบอกเขาว่า “จงนำเนื้อกับขนมปังไร้เชื้อวางบนก้อนหินนี้ แล้วเทน้ำแกงราดลงไป” เขาก็ทำตาม
21Bấy giờ, thiên sứ của Đức Giê-hô-va giơ đầu gậy Ngài đang cầm nơi tay mình ra, đụng đến thịt và bánh nhỏ không men. Lửa từ hòn đá bốc lên, thiêu hóa thịt và bánh nhỏ không men; đoạn, thiên sứ của Đức Giê-hô-va biến đi khỏi mắt người.
21ทูตของพระยาห์เวห์ยื่นปลายไม้เท้าในมือแตะเนื้อกับขนมปังไร้เชื้อ ไฟก็พุ่งขึ้นจากก้อนหินเผาผลาญเนื้อกับขนมปังจนหมด แล้วทูตของพระยาห์เวห์ก็หายไปจากสายตาของเขา
22Ghê-đê-ôn thấy rằng ấy là thiên sứ của Đức Giê-hô-va, bèn la rằng: Oâi, Chúa Giê-hô-va! khốn nạn cho tôi, vì tôi thấy đối diện thiên sứ của Đức Giê-hô-va!
22กิเดโอนจึงรู้ว่าผู้นั้นคือทูตของพระยาห์เวห์ เขาร้องว่า “โอ้ ข้าแต่พระยาห์เวห์องค์พระผู้เป็นเจ้า! ข้าพเจ้าได้เห็นทูตของพระยาห์เวห์ซึ่งหน้าแล้ว!”
23Nhưng Đức Giê-hô-va phán cùng người rằng: Khá yên lòng, chớ sợ chi, ngươi sẽ không chết đâu.
23พระยาห์เวห์ตรัสกับเขาว่า “สันติสุขจงมีแก่เจ้า อย่ากลัวเลย เจ้าจะไม่ตาย”
24Ghê-đê-ôn bèn lập tại đó một cái bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, và đặt tên là Giê-hô-va-Sa-lam. Tại Oùp-ra, thành của người A-bi-ê-xê-rít, cái bàn thờ ấy vẫn còn đến ngày nay.
24กิเดโอนจึงสร้างแท่นบูชาถวายพระยาห์เวห์ที่นั่น และเรียกว่า “พระยาห์เวห์คือสันติสุข” จนถึงทุกวันนี้แท่นนั้นยังอยู่ที่โอฟราห์ของชาวอาบีเอเซอร์
25Trong cũng một đêm ấy, Đức Giê-hô-va phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Hãy bắt con bò đực tơ của cha ngươi, và một con bò đực thứ nhì bảy tuổi, rồi phá dỡ bàn thờ thần Ba-anh tại nhà cha ngươi, và đánh hạ hình tượng A-sê-ra ở trên đó.
25คืนเดียวกันนั้น พระยาห์เวห์ตรัสกับเขาว่า “จงนำโคของบิดา คือโคตัวที่สองอายุเจ็ดปี ไปรื้อแท่นบูชาพระบาอัลของบิดา และโค่นเสาอาเชราห์ที่อยู่ข้างๆ
26Đoạn, tại nơi chót hòn đá nầy, ngươi sẽ lập một bàn thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và sắp đặt mọi việc; rồi hãy bắt con bò đực thứ nhì, dâng làm của lễ thiêu với gỗ hình tượng A-sê-ra mà ngươi đã đánh hạ.
26แล้วสร้างแท่นบูชาถวายพระยาห์เวห์พระเจ้าของเจ้าบนยอดที่มั่นนี้โดยวางเรียงให้เป็นระเบียบ จงนำโคตัวที่สองมาถวายเป็นเครื่องเผาบูชา ใช้ไม้จากเสาอาเชราห์ที่เจ้าโค่นเป็นฟืน”
27Ghê-đê-ôn chọn lấy mười người trong bọn đầy tớ mình, và làm theo điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn; và vì người sợ nhà cha mình cùng kẻ trong thành, nên không dám làm theo lịnh ấy ban ngày, bèn làm ban đêm.
27กิเดโอนนำคนรับใช้สิบคนไปทำตามที่พระยาห์เวห์ตรัส แต่เพราะเขากลัวครอบครัวของบิดาและชาวเมือง จึงไม่กล้าทำในเวลากลางวัน แต่ทำในเวลากลางคืน
28Sớm mai, khi dân trong thành thức dậy, thấy bàn thờ của thần Ba-anh đã bị phá dỡ, hình tượng A-sê-ra ở trên bị đánh hạ, và con bò đực thứ nhì đã dâng làm của lễ thiêu trên bàn thờ mới lập đó.
28เมื่อชาวเมืองตื่นขึ้นแต่เช้า ก็เห็นว่าแท่นบูชาพระบาอัลถูกรื้อ เสาอาเชราห์ข้างแท่นถูกโค่น และโคตัวที่สองถูกถวายบนแท่นบูชาที่สร้างขึ้นใหม่
29Chúng hỏi nhau rằng: Ai làm điều đó? Đoạn, hỏi thăm và tra xét. Có người nói cùng chúng nó rằng: Aáy là Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, đã làm điều đó.
29พวกเขาถามกันว่า “ใครทำเรื่องนี้?” เมื่อสืบถามแล้ว มีคนบอกว่า “กิเดโอนบุตรโยอาชเป็นคนทำ”
30Dân trong thành bèn nói cùng Giô-ách rằng: Hãy biểu con ngươi ra, nó phải chết, vì nó đã phá dỡ bàn thờ thần Ba-anh, và đánh hạ hình tượng A-sê-ra ở trên.
30ชาวเมืองจึงบอกโยอาชว่า “นำลูกชายของเจ้าออกมา เขาต้องตาย เพราะเขารื้อแท่นบูชาพระบาอัลและโค่นเสาอาเชราห์ที่อยู่ข้างแท่น”
31Giô-ách đáp với những kẻ dấy nghịch cùng mình rằng: Các ngươi há có ý binh vực Ba-anh sao? Há có phải các ngươi muốn tiếp cứu nó ư? Ai theo phe của Ba-anh sẽ bị xử tử kể từ sáng ngày nay. Nếu hắn là chúa, thì chính hắn hãy tranh luận lấy chớ, bởi vì người ta đã phá dỡ bàn thờ của hắn.
31โยอาชตอบทุกคนที่ยืนคัดค้านเขาว่า “พวกเจ้าจะสู้คดีแทนพระบาอัลหรือ? จะช่วยเขาให้รอดหรือ? ใครสู้คดีแทนเขา ผู้นั้นต้องตายก่อนรุ่งเช้า! ถ้าพระบาอัลเป็นเทพเจ้า ก็ให้เขาสู้คดีเพื่อตัวเอง เพราะมีคนรื้อแท่นบูชาของเขา!”
32Vậy, trong ngày đó người ta gọi Ghê-đê-ôn là Giê-ru-ba-anh mà rằng: Ba-anh phải tranh luận cùng người, vì Ghê-đê-ôn có phá dỡ bàn thờ của hắn!
32วันนั้นโยอาชจึงตั้งชื่อกิเดโอนว่าเยรุบบาอัล โดยกล่าวว่า “ให้พระบาอัลสู้คดีกับเขา เพราะเขารื้อแท่นบูชาของพระบาอัล”
33Hết thảy dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và người phương Đông đều hiệp lại, đi ngang qua sông Giô-đanh, và đóng trại tại trũng Gít-rê-ên.
33ชาวมีเดียน ชาวอามาเลข และชนชาวตะวันออกทั้งหมดมารวมตัวกัน ข้ามมาและตั้งค่ายในหุบเขายิสเรเอล
34Thần của Đức Giê-hô-va cảm hóa Ghê-đê-ôn; người thổi kèn, các người A-bi-ê-xê-rít bèn hiệp lại đặng theo người.
34พระวิญญาณของพระยาห์เวห์ทรงเข้ามาทำงานในตัวกิเดโอน เขาเป่าแตร และชาวอาบีเอเซอร์ก็มารวมตัวติดตามเขา
35Người cũng sai sứ giả đi khắp Ma-na-se; người Ma-na-se bèn nhóm hiệp đặng theo người. Đoạn, người sai sứ giả đến chi phái A-se, Sa-bu-lôn và Nép-ta-li; họ cũng đi lên mà hiệp với người nữa.
35เขาส่งผู้ส่งข่าวไปทั่วมนัสเสห์ คนเหล่านั้นก็มารวมตัวติดตามเขาด้วย เขาส่งผู้ส่งข่าวไปหาอาเชอร์ เศบูลุน และนัฟทาลี พวกเขาจึงขึ้นมาสมทบ
36Ghê-đê-ôn thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Nếu Chúa muốn dùng tay tôi giải cứu Y-sơ-ra-ên, y như lời Chúa đã phán,
36กิเดโอนทูลพระเจ้าว่า “ถ้าพระองค์จะทรงช่วยอิสราเอลผ่านทางข้าพเจ้าตามที่ตรัสไว้
37thì tôi sẽ để một lốt chiên trong sân đạp lúa; nếu sương chỉ đóng trên lốt chiên, còn đất lại khô ráo, thì tôi sẽ nhận biết Chúa dùng tay tôi giải cứu Y-sơ-ra-ên, y như Chúa đã hứa vậy.
37ข้าพเจ้าจะวางขนแกะไว้บนลานนวดข้าว ถ้ามีน้ำค้างเฉพาะบนขนแกะ แต่พื้นดินรอบๆ แห้ง ข้าพเจ้าก็จะรู้ว่าพระองค์จะทรงช่วยอิสราเอลผ่านทางข้าพเจ้าตามที่ตรัสไว้”
38Việc bèn xảy ra như vậy: ngày mai Ghê-đê-ôn dậy sớm, ép vắt lốt chiên, thì sương chảy ra đầy một chén nước.
38แล้วก็เป็นเช่นนั้น เช้าวันรุ่งขึ้นเขาตื่นแต่เช้า บีบขนแกะและรีดน้ำค้างออกมาได้เต็มชาม
39Ghê-đê-ôn lại thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Xin cơn thạnh nộ Chúa chớ nổi phừng cùng tôi, tôi chỉ sẽ nói lần nầy thôi. Xin Chúa để tôi làm thử với lốt chiên chỉ một lần nầy mà thôi: Xin cho một mình lốt chiên phải khô, còn sương lại đóng khắp trên đất.
39กิเดโอนทูลพระเจ้าว่า “ขออย่าทรงกริ้วข้าพเจ้าเลย ขอให้ข้าพเจ้าพูดอีกเพียงครั้งเดียว โปรดให้ข้าพเจ้าทดลองด้วยขนแกะอีกครั้ง ขอให้ครั้งนี้เฉพาะขนแกะแห้ง แต่พื้นดินรอบๆ มีน้ำค้าง”
40Trong đêm đó, Đức Chúa Trời bèn làm như vậy; chỉ một mình lốt chiên thì khô, còn khắp trên đất lại bị sương phủ.
40คืนนั้นพระเจ้าทรงทำให้เป็นไปตามนั้น เฉพาะขนแกะแห้ง ส่วนพื้นดินรอบๆ มีน้ำค้าง
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.