Исаија 63
Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicTranslation
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ко је оно што иде из Едома, из Восора, у црвеним хаљинама? Красно одевен, корачајући у величини силе своје? Ја сам, који говорим правду и вредан сам спасти.
1Đấng từ Ê-đôm đến, từ Bốt-ra tới, mặc áo nhuộm, bận đồ hoa mĩ, cậy sức mạnh cả thể, kéo bộ cách oai nghiêm, là ai? Aáy, chính ta, là Đấng dùng sự công bình mà nói, và có quyền lớn để cứu rỗi!
2Зашто Ти је црвено одело и хаљине Ти као у оног који гази у каци?
2Aùo ngươi có màu đỏ, áo xống của ngươi như của người đạp bàn ép rượu là vì sao?
3Газих сам у каци, и нико између народа не беше са мном; али их изгазих у гневу свом и потлачих у љутини својој; и крв њихова попрска ми хаљине и искаљах све одело своје.
3Chỉ một mình ta đạp bàn ép rượu, trong vòng các dân chẳng từng có ai với ta. Trong cơn giận ta đã đạp lên; đang khi thạnh nộ ta đã nghiền nát ra: máu tươi họ đã vảy ra trên áo ta, áo xống ta đã vấy hết.
4Јер је дан од освете у срцу мом, и дође година да се моји искупе.
4Vì ta đã định ngày báo thù trong lòng ta, và năm cứu chuộc của ta đã đến.
5Погледах, а никога не беше да помогне, и зачудих се што никога не беше да подупре; али ме десница моја избави и јарост моја подупре ме.
5Ta đã xem, chẳng có ai đến giúp ta; ta lấy làm lạ vì chẳng có ai nâng đỡ ta! Cánh tay ta bèn cứu ta, sự thạnh nộ ta bèn nâng đỡ ta.
6И изгазих народе у гневу свом, и опојих их јарошћу својом, и пролих на земљу крв њихову.
6Ta đã giày đạp các dân trong cơn giận; đã khiến chúng nó say vì sự thạnh nộ ta, và đã đổ máu tươi chúng nó ra trên đất.
7Помињаћу доброту Господњу, хвалу Господњу за све што нам је учинио Господ, и мноштво добра што је учинио дому Израиљевом по милости својој и по великој доброти својој.
7Ta sẽ nói đến những sự nhân từ của Đức Giê-hô-va, và sự ngợi khen Đức Giê-hô-va, y theo mọi sự Đức Giê-hô-va đã ban cho chúng ta, và thuật lại phước lớn Ngài đã ban cho nhà Y-sơ-ra-ên, y theo những sự thương xót và sự nhân từ vô số của Ngài.
8Јер рече: Доиста су мој народ, синови, који неће изневерити. И би им Спаситељ.
8Vì Ngài có phán: Thật, chúng nó là dân ta, tức con cái sẽ chẳng làm dối; vậy Ngài đã làm Đấng Cứu họ.
9У свакој тузи њиховој Он беше тужан, и анђео, који је пред Њим, спасе их. Љубави своје ради и милости своје ради Он их избави, и подиже их и носи их све време.
9Hễ khi dân Ngài bị khốn khổ, chính Ngài cũng khốn khổ, và thiên sứ trước mặt Ngài đã cứu họ rồi. Chính Ngài đã lấy lòng yêu đang thương xót mà chuộc họ. Ngài đã ẵm bồng, và mang họ trong các ngày thuở xưa.
10Али се одметаше и жалостише Свети Дух Његов; зато им поста непријатељ, и ратова на њих.
10Song họ đã bội nghịch, đã làm cho Thần thánh Ngài buồn rầu, Ngài bèn trở làm cừu thù với họ, và chính mình Ngài chinh chiến cùng họ.
11Али се опомену старих времена, Мојсија, народа свог: где је Онај који их изведе из мора с пастиром стада свог? Где је Онај што метну усред њих Свети Дух свој?
11Bấy giờ dân nhớ lại ngày xưa, về Môi-se và dân sự người, mà nói rằng: Nào Đấng đã làm cho dân và người chăn bầy vật mình ra khỏi biển ở đâu? Nào Đấng đã đặt Thần thánh mình giữa dân sự ở đâu?
12Који их води славном мишицом својом за десницу Мојсијеву? Који раздвоји воду пред њима, да стече себи вечно име?
12là Đấng lấy cánh tay vinh hiển đi bên tay hữu Môi-se; là Đấng đã rẽ nước ra trước mặt họ, đặng rạng danh vô cùng;
13Који их води преко бездана као коња преко пустиње, да се не спотакоше?
13là Đấng đã dắt dân qua trên sóng đào, như ngựa chạy đồng bằng, và không sẩy bước.
14Дух Господњи води их тихо, као кад стока силази у долину; тако си водио свој народ да стечеш себи славно име.
14Thần của Đức Giê-hô-va đã khiến dân sự yên nghỉ, như bầy vật xuống nơi trũng. Cũng vậy, Ngài đã dắt dân mình đi đường, để cho rạng danh vinh hiển mình.
15Погледај с неба, и види из стана светиње своје и славе своје, где је ревност Твоја и сила Твоја, мноштво милосрђа Твог и милости Твоје? Еда ли ће се мени устегнути?
15Xin Chúa từ trên trời ngó xuống, từ chỗ ở thánh và vinh hiển của Ngài mà nhìn xem! Chớ nào lòng nóng nảy và công việc lớn Ngài ở đâu? Lòng ước ao sốt sắng và sự thương xót của Ngài bị ngăn trở đến cùng tôi.
16Ти си заиста Отац наш, ако и не зна Аврам за нас, и Израиљ нас не познаје; Ти си, Господе, Отац наш, име Ти је, откако је века, Избавитељ наш.
16Thật Ngài là Cha chúng tôi, dầu Aùp-ra-ham chẳng biết chúng tôi, Y-sơ-ra-ên cũng chẳng nhận chúng tôi; hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là Cha chúng tôi, danh Ngài là Đấng Cứu chuộc chúng tôi từ trước đời đời.
17Зашто си нам дао да зађемо, Господе, с путева Твојих? Да нам отврдне срце да Те се не бојимо? Врати се ради слуга својих, ради племена наследства свог.
17Hỡi Đức Giê-hô-va, sao để chúng tôi lầm lạc xa đường Ngài? sao để lòng chúng tôi cứng cỏi đến nỗi chẳng kính sợ Ngài? Xin hãy vì cớ các tôi tớ Ngài và các chi phái của cơ nghiệp Ngài mà trở lại!
18Замало наследи народ светости Твоје; непријатељи наши погазише светињу Твоју.
18Dân thánh của Ngài được xứ nầy làm kỷ vật chưa bao lâu; mà kẻ thù chúng tôi đã giày đạp nơi thánh của Ngài.
19Постасмо као они којима ниси никада владао нити је призивано име Твоје над њима.
19Từ lâu nay chúng tôi đã như một dân không hề được Ngài cai trị, và không còn đội danh Ngài nữa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.