Isaiah 63
Bible Mutal (Kosraean)Translation
Bible Mutal (Kosraean)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1“Su tuku inge liki siti lun Bozrah in acn Edom? Su nukum nuknuk tuhnla ke srah inge, ac fahsr lal uh akkalemye lah oasr ku ac fulat lal?” LEUM GOD pa inge, su kulana in molela, ac El tuku in sulkakin kutangla lal.
1Đấng từ Ê-đôm đến, từ Bốt-ra tới, mặc áo nhuộm, bận đồ hoa mĩ, cậy sức mạnh cả thể, kéo bộ cách oai nghiêm, là ai? Aáy, chính ta, là Đấng dùng sự công bình mà nói, và có quyền lớn để cứu rỗi!
2“Efu ku nuknuk lal uh arulana srusra, oana sie mwet su futfut grape in orek wain?”
2Aùo ngươi có màu đỏ, áo xống của ngươi như của người đạp bàn ép rượu là vì sao?
3LEUM GOD El topuk, “Nga futungya mutunfacl puspis oana grape uh, ac wangin mwet tuku kasreyu. Nga fotngolos in kasrkusrak luk, ac srah kaclos tuhnala acn nukewa ke nuknuk luk uh.
3Chỉ một mình ta đạp bàn ép rượu, trong vòng các dân chẳng từng có ai với ta. Trong cơn giận ta đã đạp lên; đang khi thạnh nộ ta đã nghiền nát ra: máu tươi họ đã vảy ra trên áo ta, áo xống ta đã vấy hết.
4Nga sulela mu pa inge pacl fal in molela mwet luk; pacl fal pac in kalyei mwet lokoalok lalos.
4Vì ta đã định ngày báo thù trong lòng ta, và năm cứu chuộc của ta đã đến.
5Nga lut ke nga ngetla ac liye lah wangin mwet tuku in kasreyu. Tusruktu kasrkusrak luk oru nga fokokoi, na nga eis kutangla ke ku luk sifacna.
5Ta đã xem, chẳng có ai đến giúp ta; ta lấy làm lạ vì chẳng có ai nâng đỡ ta! Cánh tay ta bèn cứu ta, sự thạnh nộ ta bèn nâng đỡ ta.
6In kasrkusrak luk, nga futungya mutunfacl puspis ac kunauselosla. Nga okoala srah kaclos nu fin fohk uh.”
6Ta đã giày đạp các dân trong cơn giận; đã khiến chúng nó say vì sự thạnh nộ ta, và đã đổ máu tươi chúng nó ra trên đất.
7Nga fah fahkak ke lungse kawil lun LEUM GOD . Nga kaksakunul ke ma nukewa El oru nu sesr. El arulana akinsewowoye mwet Israel Ke sripen pakoten ac lungse pwaye lal.
7Ta sẽ nói đến những sự nhân từ của Đức Giê-hô-va, và sự ngợi khen Đức Giê-hô-va, y theo mọi sự Đức Giê-hô-va đã ban cho chúng ta, và thuật lại phước lớn Ngài đã ban cho nhà Y-sơ-ra-ên, y theo những sự thương xót và sự nhân từ vô số của Ngài.
8LEUM GOD El fahk, “Elos mwet luk; elos ac tia kiapweyu.” Ouinge El molelosla
8Vì Ngài có phán: Thật, chúng nó là dân ta, tức con cái sẽ chẳng làm dối; vậy Ngài đã làm Đấng Cứu họ.
9liki mwe keok lalos nukewa. Tia lipufan se, a LEUM GOD sifacna pa molelosla ke lungse ac pakoten lal. In pacl nukewa somla El nuna karinganulos,
9Hễ khi dân Ngài bị khốn khổ, chính Ngài cũng khốn khổ, và thiên sứ trước mặt Ngài đã cứu họ rồi. Chính Ngài đã lấy lòng yêu đang thương xót mà chuộc họ. Ngài đã ẵm bồng, và mang họ trong các ngày thuở xưa.
10a elos tuh utuk nunak lainul ac aktoasrye ngun mutal lal. Ke ma inge LEUM GOD El ekla ac mwet lokoalok lalos, ac mweun lainulos.
10Song họ đã bội nghịch, đã làm cho Thần thánh Ngài buồn rầu, Ngài bèn trở làm cừu thù với họ, và chính mình Ngài chinh chiến cùng họ.
11Na elos esamak pacl meet ah, ke pacl lal Moses, mwet kulansap lun LEUM GOD , ac elos siyuk, “El aya LEUM GOD su molela mwet kol lun mwet uh liki meoa uh? El aya LEUM GOD su sang ngun lal nu sel Moses,
11Bấy giờ dân nhớ lại ngày xưa, về Môi-se và dân sự người, mà nói rằng: Nào Đấng đã làm cho dân và người chăn bầy vật mình ra khỏi biển ở đâu? Nào Đấng đã đặt Thần thánh mình giữa dân sự ở đâu?
12su sang po ku lal nu ke lac po layot lal Moses, in sraclik kof uh ye mutalos, in pwanang Inel in pwengpeng ma pahtpat?
12là Đấng lấy cánh tay vinh hiển đi bên tay hữu Môi-se; là Đấng đã rẽ nước ra trước mặt họ, đặng rạng danh vô cùng;
13Su kololos sasla yen loal?” Elos tuh oana horse in acn mwesis ma fahsr ac tia tukukul.
13là Đấng đã dắt dân qua trên sóng đào, như ngựa chạy đồng bằng, và không sẩy bước.
14Oana un cow ma pwenyukla nu in sie infahlfal kasrup fohk we, ouinge LEUM GOD El sang mongla nu sin mwet lal. El kolla mwet lal, ac oru Inel in pwengpeng ac sunakinyuk.
14Thần của Đức Giê-hô-va đã khiến dân sự yên nghỉ, như bầy vật xuống nơi trũng. Cũng vậy, Ngài đã dắt dân mình đi đường, để cho rạng danh vinh hiển mình.
15LEUM GOD , ngeti nu facsr inkusrao me, yen kom muta we in acn mutal ac wolana sum. Pia nunak yohk lom kacsr uh? Pia ku lulap lom? Pia lungse ac pakoten lom? Nimet likinsai kut.
15Xin Chúa từ trên trời ngó xuống, từ chỗ ở thánh và vinh hiển của Ngài mà nhìn xem! Chớ nào lòng nóng nảy và công việc lớn Ngài ở đâu? Lòng ước ao sốt sắng và sự thương xót của Ngài bị ngăn trở đến cùng tôi.
16Kom papa tumasr. Papa matu tumasr, Abraham ac Jacob, finne tia akilen kut, tusruktu kom, LEUM GOD , pa papa tumasr, su moli kut pacl nukewa.
16Thật Ngài là Cha chúng tôi, dầu Aùp-ra-ham chẳng biết chúng tôi, Y-sơ-ra-ên cũng chẳng nhận chúng tôi; hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là Cha chúng tôi, danh Ngài là Đấng Cứu chuộc chúng tôi từ trước đời đời.
17Efu ku kom lela kut in kuhfla liki inkanek lom? Efu ku kom akupaye nunak lasr pwanang kut forla liki kom? Foloko ke sripalos su kulansupwekom, ac ke sripen mwet su nuna ma lom emeet me.
17Hỡi Đức Giê-hô-va, sao để chúng tôi lầm lạc xa đường Ngài? sao để lòng chúng tôi cứng cỏi đến nỗi chẳng kính sợ Ngài? Xin hãy vì cớ các tôi tớ Ngài và các chi phái của cơ nghiệp Ngài mà trở lại!
18Kut, mwet mutal lom, tuh lisyukla sin mwet lokoalok lasr ke kitin pacl. Elos kunausya acn mutal sum.
18Dân thánh của Ngài được xứ nầy làm kỷ vật chưa bao lâu; mà kẻ thù chúng tôi đã giày đạp nơi thánh của Ngài.
19Kom oru nu sesr oana kom in soenna leumi kut, ac oana kut in soenna mwet lom.
19Từ lâu nay chúng tôi đã như một dân không hề được Ngài cai trị, và không còn đội danh Ngài nữa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.