Rhaengsae
Chapter 3

Rhaengsae

Baibal Olcim (Matupi Chin)
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Rhaengsae 3

Baibal Olcim (Matupi Chin)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Kai tah a thinpom caitueng dongkah phacipphabaem aka hmu hlang ni.
1Ta là người đã thấy khốn khổ bởi gậy thạnh nộ của Ngài.
2Kai te m'hmaithawn tih hmaisuep ah n'caeh sak vaengah vangnah om pawh.
2Ngài đã dắt ta và khiến ta bước đi trong tối tăm, chẳng bước đi trong sáng láng.
3Kai taengah a tloeng tangloeng tih khohnin yung ah a kut a hluem.
3Chắc Ngài trở tay cả ngày nghịch cùng ta nhiều lần.
4Ka vin neh ka saa a hmawn sak tih ka rhuh a paep sak.
4Ngài đã làm hao mòn thịt và da, đã bẻ gãy xương ta,
5Kai he rhahalung n'suem thil tih sue neh bongboepnah te m'ven thil.
5Đã xây đắp nghịch cùng ta, vây ta bằng mật đắng và sự nhọc nhằn,
6Ka khosak he khosuen kah aka duek bangla khohmuep ah ka om.
6Khiến ta ở trong nơi tối tăm, như người đã chết từ lâu đời.
7Kai taengah khoep a biing tih ka rhohum loh n'nan he ka loeih pawh.
7Ngài đã bao bọc ta bằng tường, mà không cho ra; lại làm cho nặng xiềng ta.
8Ka khue tih ka pang vaengah pataeng ka thangthuinah te a toeng.
8Khi ta kêu la và xin cứu, Ngài bịt tai chẳng nghe lời cầu nguyện;
9Lungrhaih neh ka longpuei a biing tih ka hawn a paihaeh sak.
9Lấy những đá đẽo lấp lối ta; Ngài đã làm cho đường nẻo ta quanh quẹo.
10Kai taengah tah vom neh sathueng pataeng a huephael kah sathueng bangla amah rhongngol coeng.
10Ngài đối với ta như gấu rình rập, như sư tử nơi kín đáo;
11Ka longpuei ah m'phaelh sak tih kai n'soek dongah kai aka pong la n'khueh.
11Khiến ta lạc đường và vồ xé ta, cho ta phải sầu não.
12A lii a phuk tih thaltang ham kutnoek la kai n'tai.
12Ngài đã giương cung và chọn ta làm tròng cho tên Ngài.
13Anih kah liva ca loh ka kuel khuila pawlh.
13Ngài đã khiến tên trong bao Ngài vào trái cật ta:
14Ka pilnam pum kah nueihbu neh khohnin yung ah amih kah rhotoeng la ka poeh.
14Ta làm trò cười cho cả dân ta, họ lấy ta làm bài hát cả ngày.
15Ankhaa te kai ng'kum sak tih pantong neh kai m'hmilhmal sak.
15Ngài đã cho ta đầy dẫy sự đắng cay, cho ta no nê bằng ngải cứu.
16Ka no he lungcang neh a mawth tih hmaiphu khuiah kai m'vuei.
16Ngài đã lấy sỏi bẻ răng ta; vùi ta vào trong tro.
17Ka hinglu he ngaimongnah lamloh a hlahpham tih a then khaw ka hnilh.
17Ngài khiến hồn ta xa sự bình an, ta đã quên phước lành.
18Te dongah kai kah hmailong neh BOEIPA lamkah ka ngaiuepnah khaw paltham coeng ka ti.
18Ta rằng: Hết sức mạnh ta, dứt lòng trông đợi Đức Giê-hô-va.
19Kai kah phaiphabaem neh ka airhoeng khaw, ka pantong neh ka anrhat khaw poek lah.
19Hãy nhớ đến sự hoạn nạn khốn khổ ta, là ngải cứu và mật đắng.
20A poek a poek vaengah ka khuikah ka hinglu tah tlayae la tlayae coeng.
20Hồn ta còn nhớ đến, và hao mòn trong ta.
21He he ka ngaiuep dongah ni ka lungbuei he ka mael puei.
21Ta nhớ lại sự đó, thì có sự trông mong:
22BOEIPA kah sitlohnah tah bawt pawt tih a haidamnah khaw muei pawh.
22Aáy là nhờ sự nhân từ Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt.
23Mincang ah na uepomnah thai khaw ping.
23Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm.
24Ka hinglu loh, “BOEIPA tah ka khoyo ni,” a ti dongah amah te ka ngaiuep van.
24Hồn ta nói: Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp ta, nên ta để lòng trông cậy nơi Ngài.
25BOEIPA tah amah aka lamtawn ham neh amah aka toem hinglu ham a then pah.
25Đức Giê-hô-va ban sự nhân từ cho những kẻ trông đợi Ngài, cho linh hồn tìm cầu Ngài.
26BOEIPA kah loeihnah dongah tah rhingoel ngolsut ham khaw then.
26Thật tốt cho người trông mong và yên lặng đợi chờ sự cứu rỗi của Đức Giê-hô-va.
27A camoe vaengah hnamkun a phueih te ni hlang ham khaw then.
27Thật tốt cho người mang ách lúc trẻ thơ.
28Amah soah a poeh bangla amah bueng khosa saeh lamtah kuemsuem saeh.
28Phải, nó phải ngồi một mình và làm thinh, vì Ngài đã gán ách trên mình.
29A ka te laipi khuiah vuei saeh lamtah ngaiuepnah a om khaming.
29Nó khá để miệng trong bụi đất! hoặc giả sẽ có sự trông mong.
30Amah aka ngawn ham a kam duen pah saeh lamtah kokhahnah neh kum saeh.
30Nó khá đưa má ra cho kẻ vả, khá chịu đầy nhuốc nhơ.
31Ka Boeipa loh kumhal duela a hlahpham ngawn moenih.
31Vì Chúa chẳng hề bỏ cho đến đời đời.
32Pae sak bal mai cakhaw a sitlohnah dongkah sitlohnah a khawk vanbangla a haidam bitni.
32Dầu Ngài đã làm cho lo buồn, còn sẽ thương xót theo sự dư dật của lòng nhân từ Ngài;
33Hlang ca te a lungbuei a phaep pah tih a pae sak bal moenih.
33Vì ấy là chẳng phải bổn tâm Ngài làm cho con cái loài người cực khổ và buồn rầu.
34Khohmuen kah thongtla boeih te a kho hmuiah a phop ham,
34Khi người ta giày đạp mọi kẻ tù trong đất,
35Khohni kah mikhmuh ah hlang kah tiktamnah hnawt ham,
35Khi uốn cong lý đoán của người trước mặt Đấng Rất Cao,
36A tuituknah neh hlang a khun sak ham khaw ka Boeipa loh a hmuh ngaih moenih.
36Khi điên đảo ai trong sự xét đoán, thì Chúa chẳng ưng chịu.
37Ka Boeipa loh a uen pawt te om ni tila unim aka thui thai.
37Nếu chẳng phải Chúa truyền lịnh, ai hay nói ra và sự ấy được thành?
38A thae neh a then khaw Khohni ka lamloh thoeng pawt nim.
38Há chẳng phải từ miệng Đấng Rất Cao ra tai họa và phước lành?
39A tholhnah sokah a tholhnah yuvat ah balae tih tongpa hlang hing loh a kohuet mai eh.
39Cớ sao người đang sống phàn nàn vì chịu hình phạt về tội lỗi mình?
40Mamih kah longpuei he phuelhthaih tih n'khe phoeiah BOEIPA taengla mael uh sih.
40Chúng ta hãy xét và thử đường mình, trở về cùng Đức Giê-hô-va.
41Mamih kah thinko neh kut he vaan kah Pathen taengah phuel uh sih.
41Chúng ta hãy giơ lòng và tay lên đến Đức Chúa Trời trên trời.
42Kaimih kah boekoek neh nang kan koek uh te khodawk nan ngai uh moenih.
42Chúng tôi đã phạm phép, đã bạn nghịch; Ngài đã chẳng dung thứ!
43Thintoek neh na cun uh vaengah kaimih nan hloem tih lungma ti kolla nan ngawn.
43Ngài lấy giận che mình và đuổi theo chúng tôi, giết lát chúng tôi, chẳng thương xót.
44Thangthuinah neh paan ham khaw namah te cingmai neh na cun uh.
44Ngài ẩn mình trong mây, đến nỗi chẳng lời cầu nguyện nào thấu qua được.
45Kaimih he pilnam lakli ah yun-aek neh kawnhnawt la nan khueh.
45Ngài làm chúng tôi ra của bỏ, ra đồ rác rến trong dân sự.
46Ka thunkha boeih loh kaimih taengah a ka a ang uh.
46Mọi kẻ nghịch thù hả miệng rộng nghịch cùng chúng tôi.
47Birhihnah neh rhom khaw kaimih taengah omdamnah neh pocinah la thoeng.
47Chúng tôi đã mắc sự sợ hãi, hầm hố, hủy diệt, và hư hại.
48Ka pilnam nu kah a pocinah dongah ka mik he sokca tui la long.
48Mắt tôi chảy dòng nước, vì gái dân tôi mắc diệt vong.
49Ka mik loh a hawk vetih a bawtnah om pawt hil kak mahpawh.
49Mắt tôi tuôn nước mắt, không thôi cũng không ngớt,
50A dan neh BOEIPA loh vaan lamkah a hmuh duela.
50Cho đến chừng nào Đức Giê-hô-va đoái xem, từ trên trời ngó xuống.
51Ka khopuei tanu boeih kongah ka mik loh ka hinglu he a poelyoe.
51Mắt tôi làm khổ linh hồn tôi, vì mọi con gái của thành tôi.
52Lunglilungla maila kai he ka thunkha rhoek loh vaa bangla m'mae khaw m'mae uh mai.
52Những kẻ vô cớ thù nghịch tôi đã đuổi tôi như đuổi chim.
53Ka hingnah te tangrhom ah a det uh kai taengah lungto a omtoem thil.
53Họ muốn giết tôi nơi ngục tối, và ném đá trên tôi.
54Ka lu he tui loh a et vaengah tah n'tuiphih muema ka ti.
54Nước lên ngập đầu tôi, tôi nói: Ta phải chết mất!
55BOEIPA na ming te tangrhom laedil lamloh kang khue.
55Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi từ nơi ngục tối rất sâu kêu cầu danh Ngài.
56Ka hilhoemnah ham ka pang te hna na buem pawt dongah ka ol na yaak coeng.
56Ngài chúng con đã nghe tiếng tôi, xin đừng bịt tai khỏi hơi thở và lời kêu van tôi.
57Namah kang khue khohnin ah na mop tih, “Rhih boeh,” na ti.
57Ngày tôi cầu Ngài, Ngài đã đến gần tôi, đã phán cùng tôi: Chớ sợ hãi chi!
58Ka hinglu kah tuituknah khaw ka Boeipa loh na rhoe tih ka hingnah na tlan.
58Hỡi Chúa, Ngài đã đối nại việc hồn tôi, là Đấng chuộc mạng tôi.
59BOEIPA aw ka lolhmaihnah na hmuh cakhaw ka laitloeknah dongah n'tang sak lah.
59Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã thấy người ta hiếp đáp tôi: xin đoán xét việc tôi!
60Kai soah amih kah tawnlohnah boeih neh amih kah kopoek boeih te na hmuh.
60Chúng nó báo thù, lập mưu hại tôi, thì Ngài đã thấy hết.
61BOEIPA aw kai soah amih kah kokhahnah neh amih kah kopoek boeih te na yaak coeng.
61Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã nghe chúng nó sỉ nhục, bày mọi mưu chước nghịch cùng tôi.
62Khohnin yung ah a phungding ol neh kamah taengah kai m'pai thil uh.
62Những môi miếng của kẻ dấy nghịch cùng tôi và mưu kế lập ra hại tôi cả ngày.
63A hoepnah neh a painah ah, amih kah hnaelnah ni ka paelki.
63Xin Ngài xem sự ngồi xuống và đứng dậy của chúng nó; tôi là bài hát của chúng nó.
64BOEIPA aw, amih kut dongkah khoboe neh a tiing la amih te thuung lah.
64Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ báo trả chúng nó tùy theo việc tay chúng nó làm.
65Amih te lungbuei kotalh la khueh lamtah na tapvoepnah te amih soah thoeng sak.
65Ngài sẽ ban lòng cứng cỏi cho chúng nó, sự rủa sả giáng trên chúng nó.
66BOEIPA aw thintoek te na hloem dongah ni amih te vaan hmui lamloh na mitmoeng sak.
66Ngài sẽ lấy cơn giận và đuổi theo, hủy hoại chúng nó khỏi dưới trời của Đức Giê-hô-va.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.