Hoikeana 12
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1U A ikeia aku la kekahi mea kupanaha loa ma ka lani; he wahine i hoaahuia i ka la, a aia hoi ka mahina malalo o kona wawae, a o na hoku umikumamalua, oia kona leialii.
1Đoạn, trên trời hiện ra một dấu lớn: một người đàn bà có mặt trời bao bọc, dưới chân có mặt trăng, và trên đầu có mão triều thiên bằng mười hai ngôi sao.
2Ua hapai oia, a uwe nui aku la ia, i ke nahu keiki, a me ka eha e hanau ai.
2người có thai, và kêu la vì nhọc nhằn và đau đẻ.
3A ike hou ia aku la ma ka lani kekahi mea kupanaha hou; aia hoi he deragona nui ulaula, ehika ona poo, a he umi pepeiaohao, a ma kona mau poo, ehiku leialii.
3Trên trời cũng hiện ra một dấu khác nữa: là một con rồng lớn sắc đỏ, có bảy đầu, mười sừng, và trên đầu có bảy mão triều thiên.
4Huki mai la kona huelo i ka hapakolu o na hoku o ka lani, a kiola iho la ia lakou ilalo i ka honua. Ku mai la ua deragona nei, imua o ka wahine e hanau ana, e ai aku i kana keiki i kona wa e hanau ai.
4Đuôi kéo một phần ba các ngôi sao trên trời, đem quăng xuống đất; con rồng ấy chực trước người đàn bà gần đẻ, hầu cho khi đẻ ra thì nuốt con người đi.
5Hanau mai ia oia, he keikikane, he mea e hoomalu i na lahuikanaka a pau me ke kookoo hao. Ua kailiia'ku la kana keiki iluna i ke Akua a ma kona nohoalii.
5người sanh một con trai, con trai ấy sẽ dùng gậy sắt mà cai trị mọi dân tộc; đứa trẻ ấy được tiếp lên tới Đức Chúa Trời, và nơi ngôi Ngài.
6Holo aku la ua wahine la i ka waonahele ma kahi a ke Akua i hoomakaukau ai nona, i hanai lakou ia ia malaila i na la hookahi tausani elua haneri me kanaono.
6Còn người đàn bà, thì trốn vào đồng vắng, tại đó người đã có một nơi ở mà Đức Chúa Trời đã sửa soạn cho, để nuôi mình trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày.
7A he kaua no ma ka lani: kaua mai o Mikaela a me kona poe anela i ka deragona; a kaua aku ka deragona a me kona poe anela;
7Bấy giờ có một cuộc chiến đấu trên trời: Mi-chen và các sứ người tranh chiến cùng con rồng, rồng cũng cùng các sứ mình tranh chiến lại;
8Aole hoi ia i lanakila aku, aole hoi i loaa ia ia kahi e noho hou ai ma ka lani.
8song chúng nó không thắng, và chẳng còn thấy nơi chúng nó ở trên trời nữa.
9Kipakuia'ku la ua deragona nui nei, oia hoi ka mookahiko i kapaia o ka diabolo, a o Satana, nana no i hoowalewale mai i ko ke ao nei a pau. Kiolaia mai la oia i ka honua, a kiola pu ia mai la kona poe anela.
9Con rồng lớn đó bị quăng xuống, tức là con rắn xưa, gọi là ma quỉ và Sa-tan, dỗ dành cả thiên hạ; nó đã bị quăng xuống đất, các sứ nó cũng bị quăng xuống với nó.
10A lohe aku la au i ka leo nui ma ka lani, i ae la, Ua hiki mai la ke ola, a me ka mana, a me ke aupuni o ko kakou Akua, a me ka mana o kona Kristo; no ka mea, na kipakuia'ku la ka mea hoino i ko kakou poe hoahanau, ka mea nana lakou i hoino i ka po a me ke ao, imua o ke Akua.
10Tôi lại nghe trên trời có tiếng lớn rằng: Bây giờ sự cứu rỗi, quyền năng, và nước Đức Chúa Trời chúng ta đã đến cùng quyền phép của Đấng Christ Ngài nữa; vì kẻ kiện cáo anh em chúng ta, kẻ ngày đêm kiện cáo chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời, nay đã bị quăng xuống rồi.
11Ma ke koko o ke Keikihipa lakou i lanakila ai maluna ona, a ma ka olelo a lakou i hoike aku ai; a makemake ole lakou i ko lakou ola iho a hiki i ka make.
11Chúng đã thắng nó bởi huyết Chiên Con và bởi lời làm chứng của mình; chúng chẳng tiếc sự sống mình cho đến chết.
12Nolaila, e olioli oukou, e na lani, a me ka poe e noho la malaila. Auwe hoi i ka poe e noho la ma ka honua a ma ka moana! no ka mea, ua iho mai o ka diabolo ia oukou me ka inaina nui, no ka mea, ua ike oia, he pokole kona wa.
12Bởi vậy, hỡi các từng trời và các đấng ở đó, hãy vui mừng đi! Khốn nạn cho đất và biển! vì ma quỉ biết thì giờ mình còn chẳng bao nhiêu, nên giận hoảng mà đến cùng các ngươi.
13A ike ae la ka deragona, ua kipakuia oia ilalo i ka honua, alaila, hoomaau ae la ia i ka wahine i hanau i ke keiki kane.
13Khi rồng thấy mình bị quăng xuống đất, bèn đuổi theo người đàn bà đã sanh con trai.
14Haawiia mai la i ka wahine elua eheu o ka aeto nui, i lele aku ai oia i ka waonahele, i kona wahi, ua hanaiia oia malaila i ka makahiki, a me na makahiki, a me ka hapa o ka makahiki, mai ke alo aku o ua moo la.
14Nhưng người được ban cho một cặp cánh chim phụng hoàng, đặng bay về nơi đồng vắng là chỗ ẩn náu của mình; ở đó được nuôi một thì, các thì, và nửa thì, lánh xa mặt con rắn.
15Luai aku la ua moo nei i ka wai mawaho o kona waha, a kahe aku la mahope o ka wahine e like me ka muliwai, i lawe aku ai oia ia ia ma ka wai.
15Bấy giờ con rắn phun nước ở miệng mình ra như sống theo sau người đàn bà, hầu cho kéo người xuống sông.
16Kokua aku la ka honua, mamuli o ka wahine; a hamama aku la i kona waha, a moni iho la i ka muliwai a ka deragona i luai aku ai ma kona waha aku.
16Nhưng đất tiếp cứu người đàn bà, vì đất hả miệng nuốt sông mà con rồng đã phun ra từ miệng nó.
17Inaina aku la ka deragona i ka wahine, a hele aku la ia e kaua me ka poe i koe o kana poe keiki, o ka poe i malama i ke kanawai o ke Akua, a hoomau i ka hoike ana ia Iesu.
17Con rồng giận người đàn bà bèn đi tranh chiến cùng con cái khác của người, là những kẻ vẫn giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Jêsus. (12-18) Con rồng đứng trên bãi cát của biển.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.