Hoikeana 20
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1I KE aku la au i kekahi anela e iho mai ana, mai ka lani mai, me ke ki o ka luahohonu, a he kaulahao nui ma kona lima.
1Đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ trên trời xuống, tay cầm chìa khóa vực sâu và một cái xiềng lớn.
2A lalau aku la ia i ka deragona, kela moo kahiko, oia hoi o ka diabolo, a o Satana hoi, a nakinaki iho la ia ia a paa i na makahiki hookahi tausani;
2Người bắt con rồng, tức là con rắn đời xưa, là ma quỉ, là Sa-tan, mà xiềng nó lại đến ngàn năm.
3A kiola aku la ia ia iloko o ka luahohonu, pani iho la, a hoailona iho la ia ia, i ole ia e hoowalewale hou aku i ko na aina, a pau na makahiki hookahi tausani; a mahope iho o keia mau mea, e kuu hou ia 'ku oia no kekahi manawa pokole.
3Người quăng nó xuống vực, đóng cửa vực và niêm phong lại, hầu cho nó không đi lừa dối các dân được nữa, cho đến chừng nào hạn một ngàn năm đã mãn. Sự đó đoạn, Sa-tan cũng phải được thả ra trong ít lâu.
4A ike aku la au i na nohoalii, a noho lakou maluna iho, a ua haawiia na lakou e hoopai aku. A ike aku la au i na uhane o ka poe i okiia ko lakou poo no ka hoike ana ia Iesu, a no ka olelo a ke Akua, a me ka poe i hoomana ole i ka holoholona a me kona kii, aole hoi, i loaa kona hoailona ma ko lakou lae, aole hoi ma ko lakou lima; ola pu lakou me Kristo a hoomalu pu me ia i na makahiki hookahi tausani
4Tôi lại thấy những ngai, và những người ngồi trên ngai được quyền xét đoán. Kế đó, tôi thấy linh hồn những kẻ đã phải chết chém vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus và vì lời Đức Chúa Trời, linh hồn những kẻ chẳng thờ lạy con thú cùng hình tượng nó, chẳng nhận dấu hiệu nó, hoặc trên trán hoặc trên tay. Các người ấy được sống và trị vì với Đấng Christ trong một ngàn năm.
5Aole i ola ke koena o ka poe make a pau ia mau makahiki hookahi tausani. Oia ke ala mua ana.
5Còn những kẻ chết khác chẳng được sống cho đến khi đủ một ngàn năm. Aáy là sự sống lại thứ nhất.
6Pomaikai a hoano hoi ke kanaka ke loaa ia ia ke ala mua ana; aole e lanakila ka make alua maluna o lakou, aka, e lilo no lakou i poe kahuna no ke Akua a no Kristo, a na lakou e hoomalu pu me ia i na makahiki hookahi tausani.
6Phước thay và thánh thay những kẻ được phần về sự sống lại thứ nhất! Sự chết thứ nhì không có quyền gì trên những người ấy; song những người ấy sẽ làm thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và của Đấng Christ, cùng sẽ trị vì với Ngài trong một ngàn năm.
7A pau ia tausani makahiki, alaila e kuuia'ku o Satana, mai kona wahi paa;
7Khi hạn ngàn năm mãn rồi, quỉ Sa-tan sẽ được thả,
8A e hele hou ia e hoowalewale i ko na aina, ma na kihi eha o ka honua, ia Goga a me Magoga, e hoakoakoa ia lakou i ke kaua; a ua like ka nui o lakou me ke one o ke kai.
8và nó ra khỏi ngục mình đặng dỗ dành dân ở bốn phương trên đất, dân Gót và dân Ma-gót; nó nhóm chúng lại để chiến tranh, đông như cát bờ biển.
9A hele lakou ma ka palahalaha o ka honua, a puni iho la kahi hoomoana'i ka poe hoano a me ke kulanakauhale aloha. Iho mai la ke ahi mai ke Akua, mai ka lani mai, a luku iho la ia lakou.
9Chúng nó lên khắp các vùng rộng trên mặt đất, vây dinh thánh đồ và thành yêu dấu. Nhưng có lửa từ trên trời rơi xuống thiêu diệt chúng nó.
10Kiolaia'ku la o ka diabole, nana lakou i hoowalewale, i ka loko o ke ahi a me ka luaipele, kahi o ka holoholona a me ke kaula wahahee, a e hoomainoino mau ia lakou i ke ao a me ka po, ia ao aku ia ao aku.
10Còn ma quỉ là đứa đã dỗ dành chúng, thì bị quăng xuống hồ lửa và diêm, trong đó đã có con thú và tiên tri giả rồi. Chúng nó sẽ phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời.
11Ike aku la au i ka nohoalii keokeo nui, a me ka mea e noho ana iluna iho, holo aku la ka honua a me ka lani mai kona alo aku; aole i loaa hou kahi no laua.
11Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đang ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa.
12A ike aku la au i ka poe make, i ka poe unku a me ka poe nui, e ku ana imua o ke Akua, a weheia iho la ua buke: a weheia no hoi kehahi buke hou, oia hoi ka buke o ke ola. Ua hookolokoloia ka poe make ma na mea i palapalaia iloko o na buke, mamuli o ka lakou hana ana.
12Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy.
13Haawi mai la ke kai i ka poe make maloko ona; a haawi mai ka make a me ka po i ka poe make iloko o laua; a hoopaiia kela mea keia mea o lakou, e like me ka lakou hana ana.
13Biển đem trả những người chết mình chứa; Sự chết và Aâm phủ cũng đem trả những người chết mình có. Mỗi người trong bọn đó bị xử đoán tùy công việc mình làm.
14Kiolaia'ku la ka make a me ka po, iloko o ka loko o ke ahi; oia ka make alua.
14Đoạn, Sự Chết và Aâm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai.
15A i ole i palapalaia kekahi iloko o ka buke o ke ola, kiolaia'ku la oia i ka loko ahi.
15Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.