Hoikeana 4
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1MAHOPE iho o keia mau mea, nana aku la au, aia hoi, he puka e hamama ana maloko o ka lani; a o ka leo mua a'u i lohe ai, ua like ia me ko ka pu e kamailio ana ia'u, i mai la, E pii mai oe ia nei, a na'u no e hoike aku ia oe i na mea e hiki mai ana ma keia hope aku.
1Kế đó, tôi nhìn xem, nầy, một cái cửa mở ra trên trời; và tiếng thứ nhất mà tôi đã nghe nói với tôi, vang rầm như tiếng loa, phán cùng tôi rằng: Hãy lên đây, ta sẽ cho ngươi thấy điều sau nầy phải xảy đến.
2Hihio koke iho la au i ka Uhane; aia hoi, ua hoonohoia he nohoalii ma ka lani, a he mea hoi e noho ana maluna o ua nohoalii la.
2Tức thì tôi bị Thánh Linh cảm hóa; thấy một ngôi đặt tại trên trời, trên ngôi có một Đấng đang ngồi đó.
3A o ka mea e noho ana, ua like kona helehelena, me ka pohaku Iasepi a me ka Saredio; a he anuenue i pio mai la a puni ka nohoalii, me he pohaku omaomao la.
3Đấng ngồi đó rực rỡ như bích ngọc và mã não; có cái mống dáng như lục bửu thạch bao chung quanh ngôi.
4Ua puni kela nohoalii i na noho he iwakaluakumamaha; a maluna iho o ua poe noho la, e noho ana he poe lunakahiko, he iwakaluakumamaha, ua aahuia i ka aahu keoheo; a maluna iho o ko lakou mau poo, he mau leialii gula.
4Chung quanh ngôi lại có hai mươi bốn ngôi; trên những ngôi ấy tôi thấy hai mươi bốn trưởng lão ngồi, mặc áo trắng và đầu đội mão triều thiên vàng.
5Anapu mai la ka uila mai ka nohoalii mai, a me ka hekili, a me na leo. Ehiku hoi ipukukui ahi e aa ana imua o ka nohoalii, oia hoi na Uhane ehiku o ke Akua.
5Từ ngôi ra những chớp nhoáng, những tiếng cùng sấm; và bảy ngọn đèn sáng rực thắp trước ngôi: đó là bảy vì thần của Đức Chúa Trời.
6Aia hoi, imua o ka nohoalii, he moana akaka, me he aniani la; a ma ka nohoalii, a puni hoi ka nohoalii, eha mau mea ola, ua paapu i na maka mamua a mahope.
6Trước ngôi có như biển trong ngần giống thủy tinh, còn chính giữa và chung quanh có bốn con sanh vật, đằng trước đằng sau chỗ nào cũng có mắt.
7A o ka mua o ka mea ola, ua like ia me ka liona; a o ka lua o ka mea ola ua like ia me ke keiki bipi, a o ke kolu o ka mea ola, ua like kona maka me ko ke kanaka, a o ka ha o ka mea ola, ua like ia me ka aeto lele.
7Con sanh vật thứ nhất giống như sư tử, con thứ nhì như bò đực, con thứ ba mặt như mặt người, con thứ tư như chim phụng hoàng đang bay.
8A o ua poe mea ola la eha, ua papa ono lakou i na eheu; ua paapu i na maka a puni a maloko; aole hoi lakou i hoomaha i ke ao a me ka po, i ka i ana mai, Hoano, Hoano, Hoano, ka Haku ke Akua mana loa, ka mea mamua, ka mea e noho la, ka mea e noho la, ka mea e mau loa ana.
8Bốn con sanh vật ấy mỗi con có sáu cánh, chung quanh mình và trong mình đều có mắt; ngày đêm lúc nào cũng nói luôn không dứt: Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Chúa, là Đức Chúa Trời, Đấng Toàn năng, Trước Đã Có, Nay Hiện Có, Sau Còn Đến!
9A i ka wa e hoomana aku ai, a i hoonani aku ai, a hoomaikai aku ai na mea ola i ka mea e noho ana ma ka nohoalii, oia hoi ka Mea e ola mau ana ia ao aku ia ao aku,
9Khi các sanh vật lấy những sự vinh hiển, tôn quí, cảm tạ mà dâng cho Đấng ngự trên ngôi là Đấng hằng sống đời đời,
10Alaila, moe iho la ka poe lunakahiko he iwakaluakumamaha, imua o ka mea e noho ana ma ka nohoalii, a hoomana aku la i ka mea e ola mau ana ia ao aku, ia ao aku; a hoolei no hoi i ko lakou mau leialii imua o ka nohoalii, me ka i ana ae,
10thì hai mươi bốn trưởng lão sấp mình xuống trước mặt Đấng ngự trên ngôi, và thờ lạy Đấng hằng sống đời đời; rồi quăng mão triều thiên mình trước ngôi mà rằng:
11E pono no oe, e ka Haku, ke loaa ia oe ka nani a me ka mahalo a me ka mana; no ka mea, nau no i hana i na mea a pau, a ma kou makemake no lakou i mau ai a hanaia hoi.
11Lạy Đức Chúa Trời là Chúa chúng tôi, Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí và quyền lực; vì Chúa đã dựng nên muôn vật, và ấy là vì ý muốn Chúa mà muôn vật mới có và đã được dựng nên.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.