Hoikeana 3
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1E PALAPALA aku oe i ka anela o ka ekalesia ma Saredeisa; Ke i mai nei ka mea ia ia na Uhane ehiku o ke Akua, a me na hoku ehiku, penei; Ua ike no au i kau hana ana, he inoa kou ma ke ola, aka, ua make oe.
1Ngươi cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Sạt-đe rằng: Nầy là lời phán của Đấng có bảy vì thần Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao: Ta biết công việc ngươi; ngươi có tiếng là sống, nhưng mà là chết.
2E makaala a e hooikaika i na mea i koe, na mea aneane make; no ka mea, aole i loaa ia'u kau mau hana he pono io imua o ke Akua.
2Hãy tỉnh thức, và làm cho vững sự còn lại, là sự hầu chết; vì ta không thấy công việc của ngươi là trọn vẹn trước mặt Đức Chúa Trời ta.
3E hoomanao hoi i na mea au i loaa ai, a i lohe ai hoi, a e malama aku, a e mihi. A i ole oe e makaala, ea, e hele aku au iou la, me he aihue la, aole hoi oe e ike i ko'u hora e hiki aku ai ia oe.
3Vậy hãy nhớ lại mình đã nhận và nghe đạo thể nào, thì giữ lấy, và ăn năn đi. Nếu ngươi chẳng tỉnh thức, ta sẽ đến như kẻ trộm, và ngươi không biết giờ nào ta đến bắt ngươi thình lình.
4He mau inoa no nae kou ma Saredeisa, aole i hoohaumia lakou i ko lakou mea aahu; e hele pu lakou mo au, ma ke keokeo; no ka mea, ua pono lakou.
4Nhưng, ở Sạt-đe, ngươi còn có mấy người chưa làm ô uế áo xống mình: những kẻ đó sẽ mặc áo trắng mà đi cùng ta, vì họ xứng đáng như vậy.
5O ka mea lanakila, e hooaahuia oia i ka aahu keokeo; aole hoi au e holoi aku i kona inoa mailoko aku o ka buke o ke ola, aka, e hooiaio aku no au i kona inoa, imua o ko'u Makua, a imua o kona poo anela.
5Kẻ nào thắng, sẽ được mặc áo trắng như vậy. Ta sẽ không xóa tên người khỏi sách sự sống và sẽ nhận danh người trước mặt Cha ta, cùng trước mặt các thiên sứ Ngài.
6O ka mea pepeiao la, e hoolohe ia i ka mea a ka Uhane e olelo nei i na ekalesia.
6Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!
7E palapala aku oe i ka anela o ka ekalesia ma Piladelepia; Ke i mai nei ka mea hoano, ka mea oiaio, o ka mea ia ia ke ki o Davida, o ka mea wehe, aohe mea nana e pani mai; a pani hoi oia, aohe mea nana e wehe;
7Ngươi cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Phi-la-đen-phi rằng: Nầy là lời phán của Đấng thánh, chân thật, là Đấng có chìa khóa của Đa-vít, mở thì không ai đóng được, đóng thì không ai mở được:
8Ua ike no au i kau hana ana: aia hoi, ua waiho au i ka puka imua ou, e hamama ana, aohe mea nana ia e pani; no ka mea, he wahi ikaika iki kou, a ua malama oe i ka'u olelo, aole i hoole i ko'u inoa.
8Ta biết công việc ngươi; nầy, ta đã mở trước mặt ngươi một cái cửa không ai đóng được; vì ngươi có ít năng lực, mà đã giữ đạo ta, và chẳng chối danh ta.
9Aia hoi, e hoolilo aku au i halehalawai o Sataua, i ka poe i olelo ia lakou iho, he poe ludaio, aole ka, ua wahahee lakou; e hana aku no au ia lakou, a e hele mai lakou a e kukuli hoomaikai imua o kou wawae, a e ike auanei lakou, owau no ka i aloha aku ia oe.
9Nầy, ta ban cho ngươi mấy kẻ trong những kẻ thuộc về hội quỉ Sa-tan, chúng nó xưng mình là người Giu-đa, mà k” thực không phải, nhưng chúng nó nói dối; nầy, ta sẽ khiến chúng nó đến sấp mình xuống dưới chân ngươi, và sẽ cho chúng nó biết rằng ta đã yêu ngươi.
10No ka mea, ua malama oe i ka olelo o ko'u ahonui, na'u no hoi e malama aku ia oe i ka hora o ka hoowalewale, i kokoke no e hiki mai maluna o ko ke ao nei a pau, e hoao i ka poe e noho la ma ka honua.
10Vì ngươi đã giữ lời nhịn nhục ta, ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách, là giờ sẽ đến trong khắp thế gian, đặng thử những người ở trên đất.
11E hele koke mai no wau; e malama oe i kau mea i loaa ai, o lawe aku auanei kekahi i kou lei alii
11Ta đến mau kíp; hãy giữ lấy điều ngươi có, hầu cho không ai cất lấy mão triều thiên của ngươi.
12O ka mea lanakila, e hoolilo no au ia ia i kia maloko o ka luakini o ko'u Akua, aole hoi ia e puka hou iwaho. A e palapala wau maluna ona i ka inoa o ko'u Akua, a me ka inoa o ke kulanakauhale o ko'u Akua, o Ierusalema hou, o ka mea i iho mai mai loko mai o ka lani, mai ko'u Akua mai; a me ko'u inoa hou kekahi.
12Kẻ nào thắng, ta sẽ cho làm trụ trong đền Đức Chúa Trời ta, và người sẽ không ra khỏi đó nữa; ta lại sẽ lấy danh Đức Chúa Trời ta, danh của thành Đức Chúa Trời ta, là Giê-ru-sa-lem mới từ trên trời, bởi Đức Chúa Trời ta mà xuống, cùng danh mới ta, mà viết trên người.
13O ka mea pepeiao la, e hoolohe mai ia i ka mea a ka Uhane e olelo nei i na ekalesia.
13Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!
14E palapala aku oe i ka anela o ka ekalesia ma Laodikeia; Ke i mai nei ka Amene, ka hoike hoopono a me ka oiaio, ke poo o na mea a ke Akua i hana'i;
14Ngươi cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Lao-đi-xê rằng: Nầy là lời phán của Đấng A-men, Đấng làm chứng thành tín chân thật, Đấng làm đầu cội rễ cuộc sáng thế của Đức Chúa Trời:
15Ua ike no au i kau hana ana, aole oe i anu, aole hoi i wela. Ua makemake au ia oe e anu, a i ole, e wela no.
15Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước gì ngươi lạnh hoặc nóng thì hay!
16Aka, no ka mea, ua pumahana wale no oe, aole i anu, aole hoi i wela, nolaila e luai aku auanei au ia oe, mai ko'u waha aku.
16Vậy, vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta.
17No ka mea, ke olelo mai nei oe, Ua waiwai au, ua ahuia kuu ukana, aole o'u wahi hemahema iki. Aole hoi oe i ike, ua popilikia oe, a ua poino, a ua hune, a ua makapo a me ke kapa ole.
17Vả, ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa; song ngươi không biết rằng mình khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù và lõa lồ.
18Ke ao aku nei au ia oe, e kuai me au i ke gula i hoomaikaiia i ke ahi, i waiwai io oe; a i aahu keokeo, i aahuia oe, i ike ole ia mai ka hilahila o kou olohelohe ana: a i laau makole e hamo ai i kou mau maka, i ike oe.
18Ta khuyên ngươi hãy mua vàng thử lửa của ta, hầu cho ngươi trở nên giàu có; mua những áo trắng, hầu cho ngươi được mặc vào và điều xấu hổ về sự trần truồng ngươi khỏi lộ ra; lại mua thuốc xức mắt đặng thoa mắt ngươi, hầu cho ngươi thấy được.
19O na mea a'u i aloha ai, oia ka'u i ao aku ai, a i paipai ai hoi. No ia mea, e hooikaika, a e mihi hoi.
19Phàm những kẻ ta yêu thì ta quở trách sửa phạt; vậy hãy có lòng sốt sắng, và ăn năn đi.
20Aia hoi, ke ku nei au ma ka puka e kikeke ana: ina lohe kekahi i ko'u leo, a wehe i ka puka, e komo aku au io na la, a e ai pu au me ia, a oia pu me au.
20Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta.
21O ka mea lanakila, e haawi no au ia ia, e noho pu me au ma ko'u nohoalii, me au i lanakila ai, a ua noho pu me ko'u Makua ma kona nohoalii.
21Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ngồi với ta trên ngôi ta, như chính ta đã thắng và ngồi với Cha ta trên ngôi Ngài.
22O ka mea pepeiao la, e hoolohe mai ia i ka mea a ka Uhane e olelo nei i na ekalesia.
22Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.