Hoikeana
Chapter 11
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1HAAWIIA mai la na'u kekahi laau, ua like me ke kookoo; a ku mai ka anela, i mai la, E ku mai oe e ana i ka luakini o ke Akua, a me ke kuahu, a me ka poe hoomana maloko.
1Bấy giờ có người ban cho tôi một cây lau giống như cây gậy, và biểu tôi rằng: Hãy đứng dậy đo đền thờ Đức Chúa Trời, bàn thờ, và những kẻ thờ lạy tại đó.
2E waiho i ka papahola mawaho o ka luakini, aole e aua; no ka mea, ua haawiia i ko na aina e; a e hahi no lakou i ke kulanakauhale hoano a hala na malama hookahi kanahakumamalua.
2Còn sân ngoài đền thờ thì hãy để nó ra ngoài, đừng đo làm chi; vì chỗ đó đã phó cho dân ngoại, họ sẽ giày đạp thành thánh đủ bốn mươi hai tháng.
3A e haawi aku no wau, na ko'u mau mea hoike elua, a e ao aku no laua me ka aahuia i ke kapa inoino, a hala na la hookahi tausani, elua haneri me kanaono.
3Ta sẽ cho hai người làm chứng ta mặc áo bao gai đi nói tiên tri trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày.
4Oia no na oliva elua, a me na ipukukui, e ku ana imua o ka Haku o ka honua.
4Hai người làm chứng ấy tức là hai cây ô-li-ve và hai chân đèn đứng trước mặt Chúa của thế gian.
5A ina e manao kekahi e hoeha aku ia laua, e puka mai no ke ahi, mai loko mai o ko laua waha, a e luku aku i ko laua mau enemi; a ina manao kekahi e hana ino aku ia laua, pela no ia e pepehiia'i.
5Nếu ai muốn làm hại hai người đó, thì có lửa ra từ miệng hai người thiêu nuốt kẻ thù nghịch mình: kẻ nào muốn làm hại hai người thì phải bị giết như vậy.
6He mana ko laua nei e pani i ka lani, i ua ole mai ka ua i na la o ka laua ao ana. He mana no hoi ko laua maluna o na wai, e hoolilo ia lakou i koko, a e hahau i ka honua i na ino a pau, i ko laua manawa e makemake ai.
6Hai người có quyền đóng trời lại, để cho trời không mưa trong những ngày mình nói tiên tri; hai người lại có quyền biến nước thành huyết và khiến các thứ tai nạn làm hại trên đất, lúc nào muốn làm cũng được cả.
7A pau ko laua hoike ana, alaila e kaua aku ia laua ka holoholona i pii mai, mai loko mai o ka lua hohonu, a e lanakila oia maluna o laua, a e pepehi hoi ia laua a make.
7Khi hai người đã làm chứng xong rồi, có con thú dưới vực sâu lên, sẽ chiến đấu cùng hai người; thú ấy sẽ thắng và giết đi.
8A e waiho wale ia ko laua kupapau ma na alanui o ke kulanakauhale nui, i kapaia ma ka hoohalike, o Sodoma, a o Aigupita, o kahi hoi i kauia'i ko laua Haku ma ke kea.
8Thây hai người sẽ còn lại trên đường cái của thành lớn, gọi bóng là Sô-đôm và Ê-díp-tô, tức là nơi mà Chúa hai người cũng đã bị đóng đi trên thập tự giá.
9A ike aku kekahi poe o na lahuikanaka o me na ohana a me na olelo, a me ko na aina i ko laua mau kupapau i ekolu la a me ka hapa, aole hoi e ae aku ana e waihoia ko laua kino ma ka lua.
9Người ta ở các dân tộc, các chi phái, các tiếng, các nước sẽ trông thấy thây hai người trong ba ngày rưỡi, và chúng sẽ không cho chôn những thây ấy trong mồ.
10A o ka poe o noho la ma ka honua, e olioli auanei lakou maluna o laua, a e hauoli hoi, a e hoouka aku lakou i na makana, i kekahi i kekahi; no ka mea, ua hooeha keia mau kaula elua i ka poe i noho ma ka honua.
10Các dân sự trên đất sẽ vui mừng hớn hở về hai người, và gởi lễ vật cho nhàu, bởi hai tiên tri đó đã khuấy hại dân sự trên đất.
11A hala na la ekolu a me ka hapa, komo iho la ka uhane ola no ke Akua mai, iloko o laua, a ku mai la laua ma ko laua mau wawae; a kau mai la ka makau nui maluna o ka poe a pau i ike aku ia laua.
11Nhưng, sau ba ngày rưỡi ấy, có sanh khí từ Đức Chúa Trời đến nhập vào trong hai người: hai người bèn đứng thẳng dậy, và những kẻ đứng xem đều kinh hãi cả thể.
12A lohe aku la laua i ka leo nui mai ka lani mai, i mai la ia laua, E pii mai iluna nei: a pii aku la laua i ka lani ma ke ao; a ike aku la ko laua poe enemi ia laua.
12Hai người nghe một tiếng lớn ở từ trên trời đến phán cùng mình rằng: Hãy lên đây! Hai người bèn lên trời trong đám mây và những kẻ thù nghịch đều trông thấy.
13Ia hora, nui loa iho la ke olai, a hiolo iho la kekahi hapaumi o ke kulanakauhale; a make iho la ehiku tausani kanaka i ke olai. Makau loa iho la ka poe i koe, a hoo nani aku la lakou i ke Akua o ka lani.
13Đồng một giờ đó, có cơn động đất lớn; một phần mười của thành đổ xuống, bảy ngàn người chết trong cơn động đất ấy, còn những kẻ khác thất kinh và ngợi khen Đức Chúa Trời trên trời.
14Ua hala ka lua o ka auwe; aia hoi ke kolu o ka auwe, e hiki koke mai ia.
14“Nạn” thứ nhì qua rồi; nầy “Nạn” thứ ba đến mau chóng.
15Puhi ae la ka anela ahiku; a nui loa iho la na leo ma ka lani, e i mai ana, Ua lilo ke aupuni o ke ao nei no ko kakou Haku, a no kona Kristo; a oia ke Alii e mau loa ana i ke ao pau ole.
15Vị thiên sứ thứ bảy thổi loa, có những tiếng lớn vang ra trên trời rằng: Từ nay nước của thế gian thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Christ của Ngài, Ngài sẽ trị vì đời đời.
16A o na lunakahiko he iwakaluakumamaha, e noho ana ma ko lakou nohoalii imua o ke Akua, moe iho la ko lakou maka ilalo, a hoomana i ke Akua;
16Hai mươi bốn trưởng lão đang ngồi ở trước mặt Đức Chúa Trời, trên ngai mình, đều cúi mình sấp mặt xuống, thờ lạy Đức Chúa Trời,
17I aku la, Ke hoomaikai aku nei makou ia oe, e ka Haku, ke Akua mana loa, ka mea e noho la, a o ka mea mamua, a o ka mea i hiki mai ana; no ka mea, ua lawe oe i kou mana nui iho, a ua hoomalu oe i ke aupuni.
17mà rằng: Hỡi Chúa là Đức Chúa Trời Toàn năng, là Đấng Hiện Có, Trước Đã Có, chúng tôi cảm tạ Ngài, vì Ngài đã cầm quyền rất cao trong tay và đã trị vì.
18Ua huhu aku la ko na aina, a ua hiki mai kou inaina, a me ka manawa o ka poe make, i hookolokoloia lakou, a i haawiia no hoi ka uku no kau poe kauwa, no ka poe kaula, a me ka poe haipule, a me ka poe i makau i kou inoa, no ka poe liilii, a no ka poe nui; i luku mai oe i ka poe nana i luku i ko ka honua.
18Các dân tộc vốn giận dữ, nhưng cơn thạnh nộ của Ngài đã đến: giờ đã tới, là giờ phán xét kẻ chết, thưởng cho tôi tớ Chúa là các đấng tiên tri, thưởng cho các thánh và các người kính sợ danh Chúa, thưởng cho kẻ nhỏ cùng kẻ lớn, và hủy phá những kẻ đã hủy phá thế gian.
19A ua weheia ae la ka luakini o ke Akua ma ka lani, a ikeia'ku la ka pahu o kana berita, maloko o kona luakini; alaila, nui iho la ka uila, a me na leo, a me na hekili, a me ke olai, a me ka hua hekili he nui loa.
19Đền thờ Đức Chúa Trời bèn mở ra ở trên trời, hòm giao ước bày ra trong đền thờ Ngài, rồi có chớp nhoáng, tiếng, sấm sét, động đất và mưa đá lớn.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.