Hoikeana
Chapter 10
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1I KE aku la au i kekahi anela hou, ikaika loa, e iho ana, mai ka lani mai, ua aahuia i ke ao; a he anuenue ma kona poo, ua like hoi kona maka me ka la, a o kona mau wawae me na kia ahi.
1Đoạn, tôi lại thấy một vị thiên sứ khác sức mạnh lắm, ở từ trời xuống, có đám mây bao bọc lấy. Trên đầu người có mống; mặt người giống như mặt trời và chân như trụ lửa.
2Ua paa hoi i kona lima kekahi palapala liilii e hamama ana: a ku mai la ia, o kona wawae akau ma ke kai, a o kona wawae hema ma ka aina;
2Người cầm nơi tay một quyền sách nhỏ mở ra: người để chân hữu mình trên biển, chân tả mình trên đất,
3Kahea mai la ia me ka leo nui, e like me ka uwo ana o ka liona. A i kona kahea ana, poha mai la ka leo o na hekili ehiku.
3và kêu lên một tiếng lớn, như tiếng sư tử rống: khi kêu tiếng đó rồi thì bảy tiếng sấm rền lên.
4A i ka wa i poha mai ai ka leo o ia mau hekili ehiku, ua makaukau wau e palapala; a lohe au i ka leo, mai ka lani mai, e olelo ana, E hoopaa oe i ka wepa i na mea a na hekili ehiku i pane mai ai, mai palapala oe ia mau mea.
4Lại khi bảy tiếng sấm rền lên rồi, tôi có ý chép lấy, nhưng tôi nghe một tiếng ở từ trời đến phán rằng: Hãy đóng ấn, những điều bảy tiếng sấm đã nói, và đừng chép làm chi.
5A o ka anela a'u i ike ai e ku ana ma ke kai a ma ka aina, kikoo aku la kona lima iluna i ka lani,
5Bấy giờ vị thiên sứ mà tôi đã thấy đứng trên biển và trên đất, giơ tay hữu lên trời,
6A hoohiki ae la ia i ka mea e ola ana ia ao aku ia ao aku, ka mea nana i hana ka lani a me na mea iloko ona, a me ka honua a me na mea iloko ona, a me ke kai a me na mea iloko ona, aole e manawa kali hou aku.
6chỉ Đấng hằng sống đời đời, là Đấng đã dựng nên trời cùng muôn vật trên trời, dựng nên đất cùng muôn vật dưới đất, dựng nên biển cùng muôn vật trong biển, mà thề rằng không còn có thì giờ nào nữa;
7Aka, ke hiki aku i na la e kani mai ai ka anela ehiku, i ka wa e hoomaka ai e puhi, alaila, e hookoia na mea huna o ke Akua, e like me kana i olelo mai ai i kana poe kauwa, i na kaula.
7nhưng đến ngày mà vị thiên sứ thứ bảy cho nghe tiếng mình và thổi loa, thì sự mầu nhiệm Đức Chúa Trời sẽ nên trọn, như Ngài đã phán cùng các tôi tớ Ngài, là các đấng tiên tri.
8A o ka leo a'u i lohe ai, mai ka lani mai, olelo hou mai ia'u, i mai la, O hele oe, e lawe i ka palapala liilii e hamama ana ma ka lima o ka anela, e ku mai la ma ke kai a ma ka aina.
8Tiếng mà tôi đã nghe đến từ trời, lại nói cùng tôi và bảo rằng: Hãy đi, lấy quyển sách nhỏ mở ra trong tay vị thiên sứ đang đứng trên biển và đất.
9Hele aku la au i ua anela la, i aku la ia ia, Ho mai na'u ka palapala liilii. I mai la kela ia'u, E lawe, a e ai hoi; e hoawahia ia i kou opu, aka, ma kou waha he mea ono ia e like me ka meli.
9Vậy, tôi đi tới vị thiên sứ và xin người cho tôi quyển sách nhỏ. Người phán: Ngươi hãy lấy và nuốt đi; nó sẽ đắng trong bụng ngươi, nhưng trong miệng ngươi nó sẽ ngọt như mật.
10Lawe aku la au i ua palapala liilii la, mai ka lima ae o ka anela, a ai iho la; a ma ko'u waha ua ouo ia e like me ka meli; a pau i ka aiia, ua awaawa iho la ko'u opu.
10Tôi lấy quyển sách nhỏ khỏi tay vị thiên sứ và nuốt đi; trong miệng tôi nó ngọt như mật, nhưng khi tôi nuốt rồi, thì đắng ở trong bụng.
11I mai la kela ia'u, E pono ia oe ke wanana hou aku, i na lahuikanaka, a me ko na aina, a me na olelo, a me na'lii he nui loa.
11Có lời phán cùng tôi rằng: Ngươi còn phải nói tiên tri về nhiều dân, nhiều nước, nhiều tiếng và nhiều vua nữa.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.