Kinohi 49
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1KAHEA aku la o Iakoba i kana mau keikikane, i aku la, E houluulu mai ia oukou iho i hai aku ai au ia oukou i na mea e hiki mai ana io oukou la i na la mahope.
1Gia-cốp gọi các con trai mình lại và nói rằng: Hãy hội lại đây, cha sẽ nói những điều phải xảy đến cho các con ngày sau.
2E houluulu mai ia oukou iho, e lohe, e na keiki a Iakoba; e hoolohe mai ia Iseraela i ko oukou makuakane.
2Hỡi các con trai Gia-cốp, hãy hội lại mà nghe; Nghe lời Y-sơ-ra-ên, cha của các con.
3E Reubena e, o oe no ka'u hiapo, o ko'u ikaika, a me ka hoomaka ana o ka ui o'u; ke kela ana i ka hanohano, ke kela ana i ka mana:
3Hỡi Ru-bên! con là trưởng nam của cha, Sức lực cha, và đầu tiên sự mạnh mẽ cha; Vốn có sự tôn trọng và quyền năng tột đỉnh.
4He hu wale me he wai la, aole oe e kela aku, no ka mea, pii aku la oe i ka moe o kou makuakane: alaila oe i hoohaumia iho ai: pii aka la ia i kuu wahi moe.
4Con sôi trào như nước, nên sẽ chẳng phần hơn ai! Vì con đã lên giường cha. Con lên giường cha bèn làm ô làm dơ đó!
5O Simeona laua o Levi, he mau hoahanau laua: aia na mea hoomainoino ma ko laua hoolimalima.
5Si-mê-ôn và Lê-vi là anh em ruột. Thanh gươm chúng nó thật khí giới hung tàn.
6Ma ko laua wahi ohumu aole e hele aku kuu uhane, ma ko laua halawai aole e hui pu ia'ku ko'u naui: no ka mea, no ko laua inaina pepehi iho la laua i ke kanaka, a no ko laua makemake oki iho la laua i ke olona wawae o ka bipi.
6Cầu cho tâm hồn cha chớ có đồng mưu, Vinh hiển cha chớ hiệp cùng hội họ; Vì họ đã giết người trong cơn giận dữ, Cắt nhượng bò đực vì ý riêng mình.
7E hoinoia ka laua inaina, no ka mea, he ino ia, a me ko laua huhu, no ka mea, he koikoi ia: e mahelehele au ia laua iloko o ka Iakoba, a e hoopuehu au in laua iloko o ka Iseraela.
7Đáng rủa sả thay cơn giận dữ họ, vì thật là hung mạnh! Đáng rủa sả thay khí giận họ, vì dữ dằn thay! Ta sẽ phân chia họ ra trong nhà Gia-cốp, Tan lạc họ trong dân Y-sơ-ra-ên.
8E Iuda e, o oe ka mea a na hoahanau ou e hoomaikai ai: o kou lima, aia no ia ma ka a-i o kou poe enemi; e kulou iho hoi na keiki a kou makuakane imua on.
8Hỡi Giu-đa! các anh em sẽ khen ngợi con, Tay con sẽ chận cổ quân nghịch, Các con trai cha sẽ quì lạy trước mặt con.
9He keiki a ka liona o Iuda, ua pii ae oe, e kuu keiki, mai ke pio ae: kukuli iho la ia, a moe iho la me he liona kane la, a me ka liona wahine; nawai ia e hoala ae?
9Giu-đa là một sư tử tơ; Hỡi con! Con bắt được mồi rồi tha về. Nó sụm gối, nằm khác nào sư tử đực, Như sư tử cái; há ai dám khiến ngồi lên?
10Aole e lilo aku ke kookeo alii mai o Iuda aku, aole hoi ka mea webewehe kanawai maiwaena aku o kona mau wawae, a hiki mai ai o Silo; a ia ia ke akoakoa ana ae o na kanaka.
10Cây phủ việt chẳng hề dời khỏi Giu-đa, Kẻ lập pháp không dứt khỏi giữa chân nó, Cho đến chừng Đấng Si-lô hiện tới, Và các dân vâng phục Đấng đó.
11E hikii ana i kana keikihoki i ke kumuwaina, a me ke keiki a ka hokiwahine i ke kumuwaina maikai, holoi iho la ia i kona kapa i ka waina, a me kona aahu i ke koko o ka huawaina.
11Người buộc lừa tơ mình vào gốc nho, Lừa con mình vào nhành nho tốt nhất. Người giặt áo xống mình vào rượu nho, Cùng lấy huyết nho lau áo tơi mình.
12E ulaula kona mau maka i ka waina, e keokeo hoi kona mau niho i ka waiu.
12Mắt người đỏ vì cớ rượu, Răng người trắng vì cớ sữa.
13E noho auanei o Zebuluna ma ke kahakai; oia no ke kahakai no na moku; a e hiki aku kona palena i Sidona.
13Sa-bu-lôn sẽ ở nơi gành biển, Tức là nơi có tàu đậu; Bờ cõi người chạy về hướng Si-đôn.
14He hoki ikaika no o Isakara e moe ana mawaena o na halemalumalu:
14Y-sa-ca là một con lừa mạnh mẽ, Nằm nghỉ giữa chuồng;
15Ike iho la ia i ka maha he maikai ia, a i ka aina he oluolu ia, kulon iho la ia i kona hokua i ka ukana, a lilo iho la ia i kauwn e auhauia'i.
15Thấy rằng sự yên ổn là tốt lành, Và đất-đai đẹp lắm thay. Người đã rùn vai vác gánh nặng, Phải vâng phục những điều sưu-dịch.
16E hooponopono o Dana i kona hanauna a kanaka, e like me kekahi o na ohana o Iseraela.
16Đan sẽ xử đoán dân chúng mình, Như một trong các chi phái Y-sơ-ra-ên.
17He nahesa o Dana ma kapa alanui, he moolele ma ke ala; nana e nahu aku na kuekuewawae o ka lio, a e haule hope iho ka mea e hooholo ana ia ia.
17Đan sẽ là một con rắn trên đường, Một con rắn lục trong chốn nẻo cùng, Cắn vó ngựa, Làm cho kẻ cỡi phải té nhào.
18Ua kali au i kou hoola ana, e Iehova.
18Hỡi Giê-hô-va! tôi trông ơn chửng cứu của Ngài!
19O Gada, e lanakila mai ka poe kaua maluna ona, aka, e lanakila aku oia ma ka hope.
19Còn Gát sẽ bị một đạo binh xông đánh, Nhưng người xông đánh lại và đuổi theo.
20Mai Asera mai kana ai momona, a e haawi aku ia i na mea ono na na'lii.
20Do nơi A-se có thực vật ngon, Người sẽ cung cấp mỹ vị cho các vua.
21O Napetali, he diawahine ia i kalaia'ku; ke hua mai nei ia i na huaolelo maikai.
21Nép-ta-li là nai cái thả chuồng Nói bày nhiều lời văn hoa.
22He lala hua o Iosepa, he lala hua ma ka punawai: ke kolo ae nei na lala ona maluna o ka pa.
22Giô-sép là chồi của cây tươi tốt, Mọc gần bên suối nước; Nhành nhánh phủ bao trên ngọn tường.
23Ua hooeha nui mai, a ua pana mai hoi na mea pana ia ia, a ua inaina mai lakou ia ia.
23Kẻ cầm cung đã ghẹo chọc người, Bắn tên vào, và hãm đánh;
24Aka, ua mau no kona kakaka i ka ikaika, a ua hooikaikaia kona mau lima e na lima o ka Mea mana o Iakoba; (nolaila mai ke kahuhipa, ka pohaku no Iseraela;)
24Nhờ tay Đấng toàn năng của Gia-cốp, Nên cung người vẫn bền-chắc; Nhờ Đấng Chăn chiên, là Đá của Y-sơ-ra-ên, Nên hai tay người thêm mạnh.
25E ke Akua o kou makua, nana oe e kokua mai; e ka Mea mana loa hoi, nana oe e hoomaikai mai i na mea maikai o ka lani iluna, a o ka hohonu ilalo, i na mea maikai o ka u, a o ka opu.
25Đức Chúa Trời của Cha sẽ giúp đỡ con; Đấng toàn năng sẽ ban phước cho con, Tức là phước lành ở chốn trời cao xuống, Cùng phước lành ở nơi vực rộng thẳm lên, Phước lành của vú, và của lòng mẹ.
26Ua oi aku ka hoomaikai ana o kou makuakane maluna o na hoomaikai ana o na mauna mau, a hiki aku hoi i na mokuna o na puu kahiko loa: maluna no auanei ia o ke poo o Iosepa, a maluna hoi o ka piko o ke poo o ka mea i hookaawaleia ae mai koua poe hanauna aku.
26Phước lành cha chúc cho con vượt lần lên Cao hơn các phước lành của tổ phụ cha, Cho đến các chót núi đời đời: Các phước nầy sẽ ở nơi đầu Giô-sép, Nơi trán của chúa các anh em mình.
27E haehae o Beniamina me he iliohae la, i ke kakahiaka e ai iho ia i ke pio, a i ke ahiahi e puunaue ia i ka waiwai pio.
27Bên-gia-min là một con chó sói hay cấu xé; Ban mai đi đánh chết mồi, Chiều phân chia mồi đã được.
28O keia poe a pau, o ka poe ohana ia a Iseraela he umikumamalua: a oia ka mea a ko lakou makuakane i olelo mai ai ia lakou, a i hoomaikai mai ai ia lakou; i kela kanaka keia kanaka e like me ka hoomaikai ana, ana i hoomaikai mai ai ia lakou.
28Các người đó là đầu trưởng của mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên; và đó là lời của cha họ nói đang khi chúc phước cho, chúc một lời phước riêng cho mỗi người vậy.
29Kauoha aku la oia ia lakou, i aku la, E huipu ana au me ko'u poe makua: e kanu pu hoi oukou la'u me na makua o'u ma ke ana maloko o ke kula o Eperona, no ka Heta,
29Đoạn, người ra lịnh cho các con trai mà rằng: Cha sẽ về nơi tổ tông, các con hãy chôn cha chung cùng tổ phụ, nơi hang đá tại đồng ruộng Eùp-rôn, người Hê-tít,
30Ma ke ana iloko o ke kula ma Makepela, ma ke alo o Mamere, ma ka aina o Kanaana, o ke kula a Aberahama i kuai ai me Eperona, no ka Heta, i wahi ilina kupapau nona.
30tức là hang đá ở trong đồng Mặc-bê-la, ngang Mam-rê, thuộc về xứ Ca-na-an, mà Aùp-ra-ham đã mua làm mộ địa luôn với đồng ruộng của Eùp-rôn
31Malaila lakou i kanu ai ia Aberahama, a me kana wahine me Sara, a malaila lakou i kanu ai ia Isaaka a me kana wahine mo Rebeka, a malaila hoi au i kanu ai ia Lea.
31Aáy nơi đó, người ta đã chôn Aùp-ra-ham và Sa-ra, vợ người; Y-sác và Rê-be-ca, vợ người; mà lại nơi đó cha cũng đã chôn Lê-a nữa.
32Ua kuaiia ke kula, a me ke ana iloko me na mamo a Heta.
32Cái đồng ruộng cùng hang đá ở tại đó đã mua của dân họ Hếch vậy.
33A pau ka Iakoba kauoha ana i kana poe keiki, opili ae la ia i kona mau wawae maluna o kahi moe, kaili aku la ke aho, a huipu ia iho la ia me kona poe makua.
33Khi trối mấy lời nầy cho các con mình xong, thì Gia-cốp để chân vào giường lại, rồi tắt hơi, được về cùng tổ tông mình.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.