Kinohi
Chapter 50
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1HAULE iho la o Iosopa ma ka maka o kona makuakane, a uwe iho la maluna iho, a houi aku la.
1Giô-sép bèn cúi đầu xuống mặt cha mình, hôn người và khóc.
2Kauoha ae la o Iosepa i kana mau kauwa, i na kahnua e ialoa i kona makuakane, a ialoa no na kahuna ia Iseraela.
2Đoạn, Giô-sép biểu mấy thầy thuốc hầu việc mình, dùng thuốc thơm xông cho xác cha; thầy thuốc bèn xông cho Y-sơ-ra-ên.
3A pau ae la na la hookahi kanaha nona, no ka mea, oia na la e pau ai ka ialoa ana o ka poe i ialoaia; a kanikau iho la ko Aigupita nona i na la he kanahiku.
3Bốn mươi ngày xông thuốc hầu qua, vì ấy là hạn ngày dùng xông thuốc; dân Ê-díp-tô khóc người trong bảy mươi ngày.
4A pau ae la na la kanikau, olelo aku la o Iosepa i na kanaka o Parao, i aku la, Ina i loaa ia'u ka lokomaikaiia mai ia oukou, ke nei aku nei au, e olelo aku oukou ma ka pepeiao o Parao, me ka i aku,
4Khi mãn tang rồi, Giô-sép bèn nói cùng quần thần Pha-ra-ôn rằng: Nếu tôi được ơn trước mặt các ngươi, xin hãy thuật lại lời nầy cho Pha-ra-ôn nghe:
5Na ko'u makuakane i hoohiki ai au, i mai la ia, E, e make ana au. E kanu oe ia'u, ma ka lua kupapau a'u i kohi ai no'u ma ka aina i kanaana. Malaila oe e kanu ai ia'u. E ae mai hoi oe ia'u ke pii aku a kanu i kuu makuakane, a hoi hou mai no.
5Cha tôi có biểu tôi thề mà rằng: Nầy, cha sẽ chết, con hãy chôn cha nơi mộ địa ta đã mua sẵn rồi trong xứ Ca-na-an. Vậy bây giờ, tôi phải lên đó chôn cha tôi, rồi sẽ trở xuống.
6I mai la o Parao, O hele e kanu i kou makuakane, e like me kau i hoohiki ai nana.
6Pha-ra-ôn bèn phán rằng: Hãy trở lên chôn cha ngươi, y như lời người đã bắt thề đó.
7Pii aku la o Iosepa e kanu i kona makuakane, a pii pu aku la me ia na kauwa a Parao a pau, a me na luna kahiko o kona hale, a me na luna kahiko a pau o ka aina o Aigupita:
7Giô-sép dời xác cha mình trở lên chôn; quần thần Pha-ra-ôn, các bực trưởng lão trong đền, các bực trưởng lão trong xứ Ê-díp-tô,
8O ko Iosepa poe a pau me kona poe hoahanau, a me ka poe a pau o kona makuakane. O na kamalii, a me na hipa, a me na bipi, oia wale no ka lakou i waiho ai mahope, ma ka aina i Gosena.
8hết thảy nội nhà Giô-sép, các anh em và nội nhà cha mình đều đi lên theo đưa với người; trong Gô-sen chỉ còn những đứa trẻ và chiên, cùng bò của họ mà thôi.
9Pii pu aku la me ia na kaa a me na hoohololio; he poe nui loa.
9Lại cũng có đem ngựa và xe theo lên nữa: thật là một đám xác rất đông thay!
10Pii aku la lakou i kahi hehi palaoa o Atada, ma o aku o Ioredaue, a malaila lakou i uwe ai me ka uwe nui loa, a kanikau iho la lakou i kona makuakane i na la ehiku.
10Khi đến sân đạp lúa của A-tát, ở bên kia sông Giô-đanh, thì họ làm lễ khóc than rất nên trọng thể tại đó; đoạn, Giô-sép để tang cha trong bảy ngày.
11A ike ae la ka poe noho ma ia aina, o ko Kanaana i ua kanikau nei, ma kahi hehi palaoa o Atada, olelo iho la lakou, He kanikau nui loa keia a ko Aigupita: no ia mea, ua kapa aku la ka inoa o Abelamizeraima, aia ma o aku o Ioredane.
11Dân Ca-na-an, tức là dân xứ ấy, thấy khóc than nơi sân đạp lúa A-tát, thì nói rằng: Aáy là một đám khóc than trọng thể của dân Ê-díp-tô đó! Bởi cớ ấy người ta gọi cái sân nầy tên là A-bên-Mích-ra-im ở bên kia sông Giô-đanh.
12A hana aku la kana mau keiki ia ia e like me kana i kauoha ai ia lakou.
12Vậy, các con trai Gia-cốp làm theo lời cha trối lại,
13Lawe aku la no kana mau keiki ia ia, i ka aina o Kanaana, a kanu iho la ia ia ma ke ana iloko o ke kula, ma Makepela, na Aberahama i kuai ia kula i wahi ilina nona, me Eperona no ka Heta, aia ma ke alo o Mamere.
13dời xác người về xứ Ca-na-an, chôn trong hang đá của đồng Mặc-bê-la ngang Mam-rê, mà Aùp-ra-ham đã mua luôn với đồng ruộng Eùp-rôn, người Hê-tít, để dùng làm mộ địa.
14A pau ke kanu ana i kona makuakane, hoi aku la o Iosepa i Aigupita, oia, a me kona poe hoahanau a pau i hele pu me ia e kanu i kona makuakane.
14Chôn cha xong rồi, Giô-sép cùng các anh em và các người đi lên theo đưa xác cha, đều trở xuống xứ Ê-díp-tô.
15A ike iho la na kaikuaana o Iosepa, ua make ko lakou makuakane, olelo lakou, E ukiuki mai auanei o Iosepa ia kakou; e oiaio no, e hoopai mai ia i ka hewa a pau a kakou i hana aku ai ia ia.
15Các anh Giô-sép thấy cha mình chết rồi, thì nói với nhau rằng: Có lẽ Giô-sép sẽ ganh ghét chúng ta, và trả thù việc ác chúng ta đã làm cho người chăng.
16Kauoha ae la lakou ia Iosepa, i ae la, Kauoha mai la kou makuakane, mamua o kona make ana, i mai la,
16Các anh bèn sai người đến nói cùng Giô-sép rằng: Trước khi qua đời, cha em có trối rằng:
17E i aku oukou ia Iosepa, Ke nonoi aku nei makou ia oe, e kala oe i ka hewa o kou poe kaikuaana, a me ko lakou hala, no ka mea, ua hana hewa lakou ia oe. Ano hoi, e kala oe i ka hewa o na kauwa a ke Akua o kou makuakane. Uwe iho la o Iosepa i ka lakou olelo ana mai ia ia.
17Hãy nói lại cho Giô-sép như vầy: Oâi! xin hãy tha điều ác, tội phạm của các anh con đi, vì chúng nó đã lỗi cùng con đó; nhưng bây giờ cha xin con hãy tha tội kẻ tôi tớ của Đức Chúa Trời cha. Nghe qua mấy lời nầy, Giô-sép bèn khóc.
18Hele ae la hoi kona poe kaikuaana, haule iho la ma kona alo, i ae la, O kau mau kanwa makou.
18Chính các anh người đến sấp mình xuống dưới chân mà nói rằng: Các anh đây thật là kẻ tôi tớ của em đó.
19I mai la o Iosepa ia lakou, Mai makau oukou, Owau anei ma ko ke Akua wahi?
19Giô-sép đáp rằng: Các anh đừng sợ chi, vì tôi há thay mặt Đức Chúa Trời sao?
20I manao no oukou e hana ino mai ia'u, a hoololi mai ke Akua ia mea, i mea maikai, e hana mai ai e like me ia i neia la, e hoola i na kanaka he nui loa.
20Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi, hầu cho cứu sự sống cho nhiều người, y như đã xảy đến ngày nay, và giữ gìn sự sống của dân sự đông đảo.
21Mai makau: na'u no oukou e malama aku i ka ai, a me ka oukou poe keiki. Hooluolu mai la ia ia lakou, a olelo lokomaikai mai la i ko lakou naau.
21Vậy, đừng sợ, tôi sẽ cấp dưỡng các anh và con cái các anh. Đoạn, Giô-sép an ủi các anh, và lấy lời êm dịu mà nói cùng họ.
22Noho iho la o Iosepa ma Aignpita, oia, a me ka ohana a kona makuakane: a o na makahiki o ko Iosepa oia ana, hookahi haneri a me ka umi keu.
22Giô-sép cùng nhà cha mình kiều ngụ tại xứ Ê-díp-tô; người hưởng thọ được một trăm mười tuổi.
23A ike iho la o Iosepa i na keiki a Eperaima a me ke ku akolu, a me na keiki a Makira, ke keiki a Manase, o ka mea i hanauia ma na kuli o Iosepa.
23Người thấy được các con cháu Eùp-ra-im đến đời thứ ba, và cũng có được nâng niu trên gối mình các con của Ma-ki, tức con trai của Ma-na-se, nữa.
24I ae la o Iosepa i kona poe hoahanau, E make ana au. E oiaio no, e ike mai ke Akua ia oukou, a e hoihoi aku ia oukou, mai keia aina aku, a ka aina ana i hoohiki ai ia Aberahama a ia Isaaka, a ia Iakoba.
24Kế, Giô-sép nói cùng các anh em rằng: Em sẽ chết, nhưng Đức Chúa Trời sẽ đến viếng các anh em thật; đem các anh em về xứ mà Ngài đã thề hứa cùng Aùp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp.
25Na Iosepa no, na mamo a Iseraela i hoohiki ai, i ae la, E oiaio no, e ike mai ke Akua ia oukou, a e lawe aku oukou i ko'u mau iwi, mai anei aku.
25Giô-sép biểu các con trai của Y-sơ-ra-ên thề mà rằng: Quả thật, Đức Chúa Trời sẽ đến viếng các anh em; xin anh em hãy dời hài cốt tôi khỏi xứ nầy.
26A make iho la o Iosepa ma ka makahiki o kona ola ana, hookahi haneri a me ka umi keu. A ialoa iho la lakou ia ia a waiho iho la maloko o ka pahu ma Aigupita.
26Đoạn, Giô-sép qua đời, hưởng thọ được một trăm mười tuổi. Người ta xông thuốc thơm cho xác Giô-sép, và liệm trong một cái quan tài tại xứ Ê-díp-tô.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.