Kinohi 20
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1HELE aku la o Aberahama mailaila aku ma ka aina kukuluhema, a noho hoi ia mawaena o Kadesa a o Sura, a ma Gerara kona noho malihini ana.
1Aùp-ra-ham từ đó đi đến miền Nam, kiều ngụ tại Ghê-ra, ở về giữa khoảng Ca-đe và Su-rơ.
2Olelo aku la o Aberahama no kana wahine no Sara, Oia no kuu kaikuwahine: a hoouna mai la o Abimeleka ke alii o Gerara, a lawe aku la ia Sara.
2Aùp-ra-ham nói về Sa-ra, vợ mình rằng: Nó là em gái tôi. A-bi-mê-léc, vua Ghê-ra sai người bắt Sa-ra.
3A hele mai la ke Akua io Abimeleka la ma ka moeuhane i ka po, i mai la ia ia, Aia hoi, he kanaka make oe, no ka wahine au i lawe iho nei, no ka mea, he wahine mea kane ia.
3Nhưng trong cơn chiêm bao ban đêm, Đức Chúa Trời hiện đến cùng vua A-bi-mê-léc mà phán rằng: Nầy, ngươi sẽ chết bởi cớ người đàn bà mà ngươi đã bắt đến; vì nàng có chồng rồi.
4Aka, aole i hoopili o Abimeleka ia ia: i aku la oia, E ka Haku, e pepehi mai no hoi oe i ka lahuikanaka hala ole?
4Vả, vua A-bi-mê-léc chưa đến gần người đó, nên thưa rằng: Lạy Chúa, Chúa há sẽ hủy diệt cả một dân công bình chăng?
5Aole anei ia i olelo mai ia'u, O ko'u kaikuwahine ia! a o ka wahine, oia ka i i mai, He kaikunane keia no'u: ma ka manao pono o kuu naau a me ka hala ole o kuu mau lima ka'u i hana aku ai i keia.
5Người đó há chẳng nói với tôi rằng: ấy là em gái tôi chăng? và chính người nữ há chẳng nói rằng: ấy là anh tôi sao? Tôi làm sự nầy bởi lòng ngay thẳng và tay thanh khiết của tôi.
6I mai la ke Akua ia ia ma ka moeuhane, Oiaio. ke ike nei au, ua hana aku oe i keia ma ka manao pono o kou naau; a ua hoopaa no hoi au ia oe, i ole oe e hana hewa mai ia'u: nolaila, aole au i ae aku ia oe e hoopa ia ia.
6Trong cơn chiêm bao, Đức Chúa Trời phán nữa rằng: Ta cũng biết ngươi vì lòng ngay thẳng mà làm điều đó; bởi cớ ấy, ta mới ngăn trở ngươi phạm tội cùng ta, và không cho động đến người đó.
7No ia mea hoi, e hoihoi aku na ua kanaka la i kana wahine; no ka mea, he kaula ia, a nana no e pule mai nou, i ola ai oe: a i ole oe e hoihoi mai ia ia, alaila e ike pono oe, he oiaio e make no oe, o oe a me ou poe a pau.
7Bây giờ, hãy giao đàn bà đó lại cho chồng nó, vì chồng nó là một đấng tiên tri, sẽ cầu nguyện cho ngươi, thì ngươi mới được sống. Còn như không giao lại, thì phải biết rằng ngươi và hết thảy ai thuộc về ngươi quả hẳn sẽ chết.
8Ala ae la o Abimeleka i kakahiaka nui, houluulu ae la i kana poe kauwa a pau, a hai aku la i keia mau mea maloko o ko lakou mau pepeiao: a makau loa iho la na kanaka.
8Vua A-bi-mê-léc dậy sớm, đòi các tôi tớ mình đến, thuật lại hết mọi lời, thì họ lấy làm kinh ngạc.
9Alaila, kahea mai la o Abimeleka ia Aberahama, i mai la ia ia, Heaha kau i hana mai ai ia makou? Heaha hoi ko'u hala in oe, i hooili mai ai oe iluna iho o'u a o ko'u aupuni ka hewa nui? Ua hana mai oe ia'u i na mea pono ole ke hanaia.
9Rồi, A-bi-mê-léc đòi Aùp-ra-ham mà nói rằng: Ngươi đã làm gì cho ta vậy? Ta có làm điều chi mất lòng chăng mà ngươi làm cho ta và cả nước phải bị một việc phạm tội lớn dường nầy? Đối cùng ta, ngươi đã làm những việc không nên làm đó.
10Ninau mai la o Abimeleka ia Aberahama, Heaha kau i ike mai ai, i hana iho ai oe i keia mea?
10Vua A-bi-mê-léc lại nói cùng Aùp-ra-ham rằng: Ngươi có ý gì mà làm như vậy?
11I aku la o Aberahama, No ka mea, i iho la au ma kuu naau, He oiaio, aole ka makau i ke Akua ma keia wahi; a e pepehi mai auanei lakou ia'u no kuu wahine.
11Aùp-ra-ham đáp: Tôi tự nghĩ rằng: Trong xứ nầy thật không có ai kính sợ Đức Chúa Trời, thì họ sẽ vì cớ vợ tôi mà giết tôi chăng.
12He oiaio hoi, o ko'u kaikuwahine no ia, ke kaikamahine a kuu makuakane, aole nae ia ke kaikamahine a kuu makuwahine, a lilo mai la ia i wahine na'u.
12Nhưng nó cũng thật là em gái tôi, em một cha khác mẹ; và tôi cưới nó làm vợ.
13A i ka manawa a ke Akua i hooanwana mai ai ia'u mai ka hale o ko'u makuakane mai, i aku la au ia ia nei, Eia kou lokomaikai au e hoike mai ai ia'u: i na wahi a pau e hiki aku ai kana, e olelo aku oe no'u, O ko'u kaikunane ia.
13Khi Đức Chúa Trời làm cco tôi pưu lạc xa nhà cha, thì tôi có nói với nàng rằng: Nầy là ơn của ngươi sẽ làm cho ta: Hễ chỗ nào chúng ta sẽ đi đến, hãy nói về ta: Aáy là anh tôi.
14Lawe ae la o Abimeleka i na hipa, me na bipikane, i na kauwakane a me na kauwawahine, a haawi mai la ia Aberahama, a hoihoi mai la oia ia Sara kana wahine nana.
14Đoạn, vua A-bi-mê-léc đem chiên và bò, tôi trai cùng tớ gái cho Aùp-ra-ham, và trả Sa-ra vợ người lại, mà phán rằng:
15I mai la o Abimeleka, Aia hoi, imua ou ko'u aina, e noho ma kahi i makemake ai oe.
15Nầy, xứ ta sẵn dành cho ngươi; ngươi thích đâu thì ở đó.
16I mai la hoi oia ia Sara, Aia hoi, ua haawi iho nei au i na apana kala he tausani na kou kaikunane: aia hoi, he mea pale maka ia nou imua o ka poe a pau me oe, a me na mea a pau: pela oia i aoia mai ai.
16Rồi vua phán cùng Sa-ra rằng: Đây, ta ban cho anh ngươi một ngàn miếng bạc; số tiền đó dùng cho ngươi như một bức màn che trước mắt về mọi việc đã xảy ra cùng ngươi; và mọi người đều sẽ cho ngươi là công bình.
17Pule aku la o Aberahama i ke Akua: a hoola mai la ke Akua ia Abimeleka, me kana wahine a me kana poe kauwawahine; a hanaukeiki lakou.
17Aùp-ra-ham cầu xin Đức Chúa Trời, thì Ngài chữa bịnh cho vua A-bi-mê-léc, vợ cùng các con đòi người; vậy, họ đều có con.
18No ka mea, ua papaniia e Iehova na opu o na wahine a pau o ka hale o Abimeleka, no Sara ka wahine a Aberahama.
18Vả, lúc trước, vì vụ Sa-ra, vợ Aùp-ra-ham, nên Đức Giê-hô-va làm cho cả nhà vua A-bi-mê-léc đều son sẻ.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.