Kinohi 13
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1PII hou mai la o Aberama mai Aigupita mai, oia me kana wahine, a me kana mau mea a pau, a me ia no o Lota, i kau wahi o ke kukuluhema.
1Aùp-ram ở Ê-díp-tô dẫn vợ cùng các tài vật mình và Lót đồng trở lên Nam phương.
2Ua waiwai nui loa o Aberama i na holoholona, i ke kala a me ke gula.
2Vả, Aùp-ram rất giàu có súc vật, vàng và bạc.
3Hele ae la ia i kona hele ana mai ke kukuluhema mai a Betela, kahi i ku ai o kona halelewa mamua, mawaena o Betela a me Hai;
3người vừa đi vừa đóng trại, từ Nam phương trở về Bê-tên và A-hi,
4Kahi o ke kuahu ana i haua'i mamua: ilaila o Aberama i kahea aku ai i ka inoa o Iehova.
4là nơi đã lập một bàn thờ lúc trước. ỳ đó Aùp-ram cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va.
5A o Lota hoi, ka mea i hele pu me Aberama, he hipa no kana me na bipi a me na halelewa.
5Vả, Lót cùng đi với Aùp-ram, cũng có chiên, bò, và trại.
6Aole i pono ka aina no laua, i noho pu ai laua, no ka nui o ko laua waiwai, aole i hiki ia laua ke noho pu.
6Xứ đó không đủ chỗ cho hai người ở chung, vì tài vật rất nhiều cho đến đỗi không ở chung nhau được.
7Hakaka ae la ka poe kahubipi a Aberama me ka poe kahubipi a Lota: e noho ana no ka Kanaana a me ka Perezi ma ia aina ia manawa.
7Trong khi dân Ca-na-an và dân Phê-rê-sít ở trong xứ, xảy có chuyện tranh giành của bọn chăn chiên Aùp-ram cùng bọn chăn chiên Lót.
8I aku la o Aberama ia Lota, Ea, aole make hakaka kaua, kekahi i kekahi, aole hoi ka'u poe kahubipi me kau poe kahubipi; no ka mea, he mau hoahanau kaua.
8Aùp-ram nói cùng Lót rằng: Chúng ta là cốt nhục, xin ngươi cùng ta chẳng nên cãi lẫy nhau và bọn chăn chiên ta cùng bọn chăn chiên ngươi cũng đừng tranh giành nhau nữa.
9Aole anei ma kou alo ka aina a pau? ke noi aku nei au ia oe, e hookaawale kaua: ina oe ma ka lima hema, alaila e hele au ma ka lima akau; a ma ka lima akau oe, alaila e hele au ma ka lima hema.
9Toàn xứ há chẳng ở trước mặt ngươi sao? Vậy, hãy lìa khỏi ta; nếu ngươi lấy bên tả, ta sẽ qua bên hữu; nếu ngươi lấy bên hữu, ta sẽ qua bên tả.
10Alawa ae la ko Lota mau maka, ike aku la i na wahi papu o Ioredane, he nui ka wai ma ia wahi a pau i kou hele ana mai i Zoara, mamua o ko Iehova luku ana ia Sodoma a me Gomora, e like me ka mahinaai o Iehova, a e like me ka aina i Aigupita.
10Lót bèn ngước mắt lên, thấy khắp cánh đồng bằng bên sông Giô-đanh, là nơi (trước khi Đức Giê-hô-va chưa phá hủy thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ) thảy đều có nước chảy tưới khắp đến Xoa; đồng ó cũng như vườn của Đức Giê-hô-va và như xứ Ê-díp-tô vậy.
11Alaila, wae iho la o Lota i ka papu a pau o Ioredane: a hele aku la o Lota ma ka hikina, a hookaawale ae la laua i ke kekahi me kekahi.
11Lót bèn chọn lấy cho mình hết cánh đồng bằng bên sông Giô-đanh và đi qua phía Đông. Vậy, hai người chia rẽ nhau.
12Noho iho la o Aberama ma ka aina i Kanaana, a noho aku la o Lota ma na kulanakauhale o ua papu la, a kukulu iho la i kona halelewa ma Sodoma.
12Aùp-ram ở trong xứ Ca-na-an, còn Lót ở trong thành của đồng bằng và dời trại mình đến Sô-đôm.
13A o na kanaka o Sodoma, he poe hewa lakou, he lawehala loa imua o Iehova.
13Vả, dân Sô-đôm là độc ác và kẻ phạm tội trọng cùng Đức Giê-hô-va.
14Olelo mai la o Iehova ia Aberama mahope mai o ko Lota hookaawale ana ae mai ona aku la, E alawa ae oe i kou mau maka, a e nana aku mai kou wahi e noho nei, i ke kukuluakau a i ke kukuluhema, a i ka hikina hoi a i ke komohana:
14Sau khi Lót lìa khỏi Aùp-ram rồi, Đức Giê-hô-va phán cùng Aùp-ram rằng: Hãy nhướng mắt lên, nhìn từ chỗ ngươi ở cho đến phương bắc, phương nam, phương đông và phương tây:
15No ka mea, o ka aina a pau au e ike nei, na'u ia e haawi aku nou, a no kau poe mamo mahope mau loa aku.
15Vì cả xứ nào ngươi thấy, ta sẽ ban cho ngươi và cho dòng dõi ngươi đời đời.
16E hoomahuahua aku no wau i kau poe mamo e like me ka lepo o ka honua: ina e hiki i ke kanaka ke helu i na huna lepo o ka honua, alaila e heluia kau poe mamo.
16Ta sẽ làm cho dòng dõi ngươi như bụi trên đất; thế thì, nếu kẻ nào đếm đặng bụi trên đất, thì cũng sẽ đếm đặng dòng dõi ngươi vậy.
17E ku ae; e kaahele i ka aina ma kona loa a ma kona laula; no ka mea, na'u no ia e haawi aku nou.
17Hãy đứng dậy đi khắp trong xứ, bề dài và bề ngang; vì ta sẽ ban cho ngươi xứ nầy.
18Alaila lawe ae la o Aberama i kona halelewa, hele aku la ia a noho iho la ma na laau oka no Mamere, aia no ma Heberona, a hana iho la ia ilaila i kuahu no Iehova.
18Đoạn Aùp-ram dời trại mình đến ở nơi lùm cây dẻ bộp tại Mam-rê, thuộc về Hếp-rôn, và lập tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.