Kinohi 15
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1MAHOPE mai oia mau mea, hiki mai la ka olelo a Iehova ia Aberama ma ka hihio, i mai la, Mai makau oe, e Aberama, owau no kou palekaua a me kau uku nui loa.
1Sau các việc đó, trong sự hiện thấy có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Aùp-ram rằng: Hỡi Aùp-ram! ngươi chớ sợ chi; ta đây là một cái thuẫn đỡ cho ngươi; phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn.
2I aku la o Aberama, E ka Haku, e Iehova e, heaha kau mea e haawi mai ai ia'u, no ka mea, ke hele keiki ole nei au, a o ka puuku o kuu hale, oia o Eliezera no Damaseko.
2Aùp-ram thưa rằng: Lạy Chúa Giê-hô-va, Chúa sẽ cho tôi chi? Tôi sẽ chết không con, kẻ nối nghiệp nhà tôi là Ê-li-ê-se, người Đa-mách.
3I aku la o Aberama, Aia hoi, aole oe i haawi mai i keiki na'u; a o kekahi i hanau iloko o ko'u hale, oia kuu hooilina.
3Aùp-ram lại nói rằng: Nầy, Chúa làm cho tôi tuyệt-tự; một kẻ tôi tớ sanh đẻ tại nhà tôi sẽ làm người kế nghiệp tôi.
4Aia hoi, hiki mai la ka olelo a Iehova ia ia, i ka i ana mai, Aole keia o kou hooilina; aka, o ka mea e hele mai ana mailoko mai ou iho, o kou hooilina ia.
4Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Aùp-ram rằng: Kẻ đó chẳng phải là kẻ kế nghiệp ngươi đâu, nhưng ai ở trong gan ruột ngươi ra, sẽ là người kế nghiệp ngươi.
5Kai aku la oia ia ia mawaho, i mai la, E nana aku oe iluna i ka lani, e helu i na hoku, ina e hiki ia oe ke helu: i mai la kela ia ia, Pela auanei kau poe mamo.
5Đoạn, Ngài dẫn người ra ngoài và phán rằng: Ngươi hãy ngó lên trời, và nếu ngươi đếm được các ngôi sao thì hãy đếm đi. Ngài lại phán rằng: Dòng dõi ngươi cũng sẽ như vậy.
6Manaoio aku la oia ia Iehova, a hooili mai la oia ia mea i pono nona.
6Aùp-ram tin Đức Giê-hô-va, thì Ngài kể sự đó là công bình cho người.
7I mai la kela ia ia, Owau no Iehova nana oe i lawe mai nei, mai Ura o ko Kaledea mai, e haawi aku nou i keia aina i wahi e noho ai.
7Đức Giê-hô-va lại phán cùng Aùp-ram rằng: Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng đã dẫn ngươi ra khỏi U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, để ban cho ngươi xứ nầy làm sản nghiệp.
8I aku la ia, E ka Haku, e Iehova e, pehea la au e ike ai, e ili mai ana keia aina no'u?
8Aùp-ram thưa rằng: Lạy Chúa Giê-hô-va, bởi cớ chi tôi biết rằng tôi sẽ được xứ nầy làm sản nghiệp?
9I mai la kela ia ia, E lalau oe na'u i bipiwahine akolu makahiki ona, i kaowahine akolu makahiki ona, i hipakane akolu ona makahiki, i manu kuhukuku, a me ka nunu opiopio.
9Đức Giê-hô-va đáp rằng: Ngươi hãy bắt đem cho ta một con bò cái ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con chiên đực ba tuổi, một con cu rừng và một con bò câu con.
10Lawe mai la oia ia mau mea a pau io na la, a mahele ae la ia lakou mawaena, a waiho iho la i kela apana i keia apana e ku pono aku i kona hoa: aka, aole ia i mahele i na manu.
10Aùp-ram bắt đủ các loài vật đó, mổ làm hai, để mỗi nửa con mỗi bên đối với nhau, nhưng không mổ các loài chim ra làm hai.
11A lele mai la na manu maluna iho o na mohai, hoopuehu aku la o Aberama ia lakou.
11Có những chim ăn mồi bay đáp trên mấy con thú chết đó, song Aùp-ram đuổi nó đi.
12A i ka napoo ana o ka la, ua pauhia o Aberama i ka hiamoe nui; aia hoi, kau mai la ka, weliweli a me ka pouli nui maluna iho ona.
12Vả, khi mặt trời vừa lặn, thì Aùp-ram ngủ mê; nầy một cơn kinh hãi, tối tăm nhập vào mình người.
13Olelo mai la ia ia Aberama, E ike pono oe, e lilo ana kau poe mamo i malihini ma ka aina e aole no lakou, a e hookauwa aku na lakou; a e hoinoia mai lakou e kela poe i na haneri makahiki eha.
13Đức Giê-hô-va phán cùng Aùp-ram rằng: Phải biết rằng, dòng dõi ngươi sẽ ngụ trong một xứ chẳng thuộc về chúng nó, làm tôi mọi cho dân xứ đó và bị họ hà hiếp bốn trăm năm.
14A o ua lahuikanaka la nana lakou e hooluhi mai, na'u lakou e hoohewa aku: a mahope iho, e puka mai lakou iwaho me ka waiwai nui.
14Nhưng, ta sẽ đoán phạt dân mà dòng dõi ngươi sẽ làm tôi mọi đó; rồi khi ra khỏi xứ, thì sẽ được của cải rất nhiều.
15E huiia'ku oe i ou mau makua me ka malu; a e kanuia oe i ka wa elemakule maikai.
15Còn ngươi sẽ bình yên về nơi tổ phụ, hưởng lộc già sung sướng, rồi qua đời.
16Aka, e hoi hou mai no lakou ia nei i ka ha o ka hanauna: no ka mea, aole i lawa ka hewa o ka Amori i nei manawa.
16Đến đời thứ tư, dòng dõi ngươi sẽ trở lại đây, vì tội lỗi của dân A-mô-rít chưa được đầy dẫy.
17A napoo iho la ka la, a poeleele iho la, aia hoi, nee ae la ka umuahi e punohu ana a me ke kukui e a ana mawaena o ua mau apana la.
17Khi mặt trời đã lặn, thình lình sự tối mịt giáng xuống; kìa có một lò lớn khói lên, và một ngọn lửa lòe ngang qua các xác thịt đã mổ,
18Ia la no, hoopaa iho la oia i berita me Aberama, i ka i ana mai, Ua haawi aku no wau i keia aina no kau poe mamo, mai ka muliwai o Aigupita a hiki aku i ka muliwai nui, ka muliwai o Euperate:
18Ngày đó, Đức Giê-hô-va lập giao ước cùng Aùp-ram, mà phán rằng: Ta cho dòng dõi ngươi xứ nầy, từ sông Ê-díp-tô cho đến sông lớn kia, tức sông Ơ-phơ-rát,
19I ka Kena, i ka Keniza, i ka Kademona,
19là xứ của các dân Kê-nít, Kê-nê-sít, Cát-mô-nít
20I ka Heta, i ka Periza, me ka Repaima,
20Hê-tít, Phê-rê-sít, Rê-pha-im,
21I ka Amora, i ka Kanaana, i ka Giregasa, a me ka Iebusa.
21A-mô-nít, Ca-na-an, Ghi-ê-ga-sít và Giê-bu-sít.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.