Kinohi 40
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A MAHOPE iho o keia mau mea, hewa ka mea lawe kiaha, a me ka mea kahuai o ke alii o Aigupita, i ko laua haku, i ke alii o Aigupita.
1Mấy việc nầy qua rồi, xảy có quan tửu chánh và quan thượng thiện của vua Ê-díp-tô phạm đến chúa mình.
2Huhu aku la Parao i kana mau luna elua, i ka luna lawe kiaha, a me ka luna kahuai.
2Pha-ra-ôn nổi giận cùng hai quan mình, là tửu chánh và thượng thiện,
3A hahao aku la oia ia laua iloko o kahi paa o ka hale o ka luna koa, ma ka halepaahao i kahi o Iosepa i paa ai.
3bèn đem họ cần ngục tại dinh quan thị vệ, là nơi đang cầm Giô-sép.
4Kauoha aku la ka luna koa ia Iosepa no laua, nana e malama mai laua, a nui na la a laua i paa ai.
4Quan thị vệ cắt phần Giô-sép hầu việc hai quan đó; họ bị ngồi ngục một ít lâu.
5Moe iho la laua a elua i ka moe, i ka po hookahi ko laua moe ana, ma ka oiaio ke ano o ko laua moe, o ka mea lawe kiaha, a me ka mea kahuai o ke alii o Aigupita, o na mea i paa ma ka halepaahao.
5Cùng trong một đêm, quan tửu chánh và quan thượng thiện của vua Ê-díp-tô đang bị cầm ngục, thấy một điềm chiêm bao, mỗi người một chiêm bao, và mỗi chiêm bao có ý nghĩa rõ ràng.
6A ao ae la, hele aku la o Iosepa io laua la, nana aku la ia laua, aia hoi, ua kaumaha iho la laua.
6Sáng mai, Giô-sép đến cùng họ, nhìn thấy sắc buồn bực,
7Ninau aku la ia i ua mau luna la me ia, ana i malama'i ma kahi paa o ka hale o kona haku, i aku la, No ke aha la i inoino ai na maka o olua i keia la?
7bèn hỏi rằng: Ngày nay sao hai quan có sắc mặt âu sầu vậy?
8I aku la laua ia ia, Ua moe maua i ka moe, aohe mea nana e hai mai ke ano o ia mea. I aku la o Iosepa ia laua, Aole anei na ke Akua ke ano oiaio? e hoike mai olua ia'u.
8Đáp rằng: Chúng tôi có thấy một điềm chiêm bao mà không ai bàn giùm. Giô-sép rằng: Sự bàn chiêm bao há chẳng do nơi Đức Chúa Trời ư? Xin hãy thuật lại điềm chiêm bao của hai quan cho tôi nghe đi.
9Hai aku la ka luna lawe kiaha i kana moe ia Iosepa, i aku la ia ia, O kuu moe, aia hoi, he kumu waina imua o'u.
9Quan tửu chánh thuật điềm chiêm bao mình lại cho Giô-sép mà rằng: Trong chiêm bao, tôi thấy một gốc nho ở trước mặt tôi;
10Ekolu manamana o ke kumu waina; me he mea opuu mai la ia, a mohala mai la ka pua; a hua mai la ka hua waina pala.
10gốc nho đó lại có ba nhành. Dường như thấy nhành nảy chồi, trổ bông, chùm có trái chín thì phải.
11Ma kuu lima ke kiaha o Parao, a lawe ae la au i na hua waina, kowi iho la ia lakou iloko o ke kiaha o Parao, a haawi aku la au i ke kiaha i ko Parao lima.
11Tay tôi đang cầm cái chén của Pha-ra-ôn; tôi hái nho đó, ép nước nho vào, rồi dâng tửu bôi vào tay Pha-ra-ôn.
12Olelo aku la o Iosepa ia ia, Eia ke ano oiaio o ia mea: o na manamana ekolu, ekolu ia la.
12Giô-sép nói: -nghiÞa chiêm bao ðoì laÌ thêÒ nâÌy: Ba nhaÌnh nho týìc laÌ ba ngaÌy.
13I na la ekolu, e hookiekie ae o Parao i kou poo iluna, a e hoihoi aku ia oe i kou wahi mamua, alaila, e haawi aku oe i ke kiaha o Parao iloko o kona lima, e like me kau hana'na mamua, i ka wa ia oe ka lawe kiaha.
13Trong ba ngày nữa, Pha-ra-ôn sẽ tha quan ra khỏi ngục, phục chức lại, quan sẽ dâng cái chén của Pha-ra-ôn vào tay người như cũ, như khi còn làm chức tửu chánh.
14A pomaikai oe, ea, e hoomanao mai oe ia'u, alaila, ke noi aku nei au, e hana lokomaikai mai oe ia'u. E hai aku oe ia'u ia Parao, e laweia'ku hoi au iwaho o keia hale.
14Song khi quan được hưởng lạc lại rồi, xin nhớ đến tôi, làm ơn tâu cùng Pha-ra-ôn về nỗi tôi, và đem tôi ra khỏi chốn nầy.
15No ka mea, ua aihue io ia mai au, noloko mai o ka aina o ka poe Hebera; ia nei hoi, aole au i hana i mea i hahaoia'i e lakou iloko o ka lua.
15Vì tôi bị người ta bắt đem ra khỏi xứ của người Hê-bơ-rơ, và tại đây tôi cũng chẳng có làm tội gì mà bị cầm nơi lao lung nầy.
16A ike mai la ka luna kahuai, ua hoike mai kela i ke ano ma ka maikai, olelo mai la oia ia Iosepa, He moe no hoi ka'u, aia hoi, he mau hinai palaoa keokeo ekolu iluna o kuu poo.
16Quan thượng thiện thấy Giô-sép bàn mộng được tốt, bèn nói: Còn trong điềm chiêm bao của tôi đây, tôi đội ba giỏ bánh trắng trên đầu;
17A iloko o ka hinai maluna iho, o na mea ai a pau i kahuia na Parao. Ai mai la na manu ia mau mea noloko mai o ka hinai maluna o kuu poo.
17trong giỏ cao hơn hết, có đủ món thực vật của thợ làm bánh hấp cho Pha-ra-ôn; chim đáp vào giỏ trên đầu tôi ăn các món đó.
18Olelo aku la Iosepa, i aku la, Eia ke ano o ia mea. O na hinai ekolu, ekolu ia la.
18Giô-sép đáp rằng: -nghiÞa chiêm bao nâÌy laÌ, ba gioÒ, týìc laÌ ba ngaÌy.
19I na la ekolu, e hookiekie aku o Parao i kou poo mai ou aku, a e kaawe aku hoi ia oe iluna o ka laau; a e ai mai na manu i kou io.
19Trong ba ngày nữa, Pha-ra-ôn sẽ xử trảm quan, sai đem treo lên cây cho chim chóc ăn thịt quan vậy.
20A i ke kolu o ka la, i ka la o Parao i hanau ai, hana iho la ia i ka ahaaina na na kauwa ana a pau: hookiekie ae la ia i ke poo o ka luna lawe kiaha a me ka luna kahuai, mawaena o na kauwa ana.
20Đến ngày thứ ba, là ngày sanh-nhựt của Pha-ra-ôn, người bèn bày tiệc đãi cả quần thần, và tha quan tửu chánh cùng quan thượng thiện ra khỏi ngục.
21Hoihoi aku la ia i ka luna lawe kiaha i kona lawe kiaha ana; a haawi aku la ia i ke kiaha i ko Parao lima.
21Pha-ra-ôn phục chức quan tửu chánh lại như xưa, đặng quan nầy dân tửu bôi vào tay mình;
22Kau aku la ia i ka luna kahuai iluna, e like me ka Iosepa hai ana mai ia laua.
22nhưng lại hạ lịnh đem treo quan thượng thiện, y như lời Giô-sép đã bàn ra.
23Aole hoi i hoomanao mai ka luna lawe kiaha ia Iosepa, aka, hoopoina iho la ia ia.
23Đoạn, quan tửu chánh chẳng còn nhớ đến Giô-sép nữa; quên người đi.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.