Pukaana
Chapter 14
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1OLELO mai la o Iehova ia Mose, i mai la,
1Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
2E i aku oe i na mamo a Iseraela, e kipa ae lakou, a e hoomoana ma ke alo o Pihahirota, mawaena o Migedola a me ke kai, ma kahi e ku pono ana i Baalazepona: ma ke alo o ia wahi oukou e hoomoana ai, ma kahakai.
2Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên trở lại đóng trại tại trước Phi-Ha-hi-rốt, ngang Ba-anh-Sê-phôn, giữa khoảng Mít-đôn và biển. Các ngươi hãy đóng trại đối diện nơi nầy, gần biển.
3E olelo auanei o Parao no na mamo a Iseraela, Ua pilikia lakou iloko o ua aina la, ua paa lakou i ka waonahele.
3Chắc Pha-ra-ôn sẽ nói về dân Y-sơ-ra-ên rằng: Dân đó lạc đường bị khốn trong đồng vắng rồi.
4A na'u no e hoopaakiki i ka naau o Parao, i hahai mai ai oia mahope o lakou: a e hoouaniia auanei au maluna o Parao, a maluna o kona puali a pau; i ike ai hoi ko Aigupita, owau no Iehova. A pela no lakou i hana'i.
4Ta sẽ làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, người sẽ đuổi theo dân đó; nhưng ta sẽ vì Pha-ra-ôn và cả toán binh người được rạng danh; người Ê-díp-tô sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va. Dân Y-sơ-ra-ên bèn làm như vậy.
5A haiia aku la i ke alii o Aigupita, Ua holo na kanaka; huli ka naau o Parao a me na kauwa ana e ku e i na kanaka: olelo iho la lakou, no ke aha la kakou i hana'i i keia, a hookuu aku i ka Iseraela i hookauwa ole ai lakou na kakou?
5Vả, họ báo cùng vua Ê-díp-tô rằng dân Hê-bơ-rơ đã trốn đi rồi. Lòng Pha-ra-ôn và quần thần đối cùng dân đó bèn thay đổi, nói rằng: Chúng ta đã làm chi vậy, tha dân Y-sơ-ra-ên đi để khỏi phục dịch ta nữa sao?
6Hoomakaukau ae la ia i kona kaakaua, a lawe pu aku la i kona poe kanaka me ia.
6Pha-ra-ôn bèn thắng xe và đem dân mình theo.
7Lawe aku la ia i na halekaa i waeia eono haneri, a me na kaakaua a pau o Aigupita, a me na luna o ia mau mea a pau.
7Người đem sáu trăm xe thượng hạng và hết thảy xe trong xứ Ê-díp-tô, trên mỗi xe đều có chiến binh cả.
8Hoopaakiki iho la o Iehova i ka naau o Parao, o ke alii o Aigupita, a hahai mai la ia mahope o na mamo a Iseraela: a puka mai la na mamo a Iseraela mawaho me ka lima hookiekie.
8Đức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn, vua xứ Ê-díp-tô, cứng lòng, đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên; nhưng dân nầy đã ra đi một cách dạn dĩ.
9Hahai mai la ko Aigupita mahope o lakou, o na lio a pau, a me na kaakaua o Parao, a me kona hoohololio, a me kona poe koa, a loaa mai lakou nei e hoomoana ana ma kahakai, ma Pihahirota, e ku pono ana i Baalazepona.
9Người Ê-díp-tô và cả ngựa xe, lính kỵ, cùng toán binh của Pha-ra-ôn đều đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên, gặp đang đóng đồn nơi bờ biển, gần Phi-ha-hi-rốt, ngang Ba-anh-Sê-phôn.
10A hookokoke mai la o Parao, alawa ae la na maka o na mamo a Iseraela, aia hoi, e hele mai ana ko Aigupita mahope o lakou; makau loa iho la lakou: a uwe aku la na mamo a Iseraela ia Iehova.
10Vả, khi Pha-ra-ôn đến gần, dân Y-sơ-ra-ên ngước mắt lên, thấy dân Ê-díp-tô đuổi theo, bèn lấy làm hãi hùng, kêu van Đức Giê-hô-va.
11I mai la hoi lakou ia Mose, No ka mea, aohe lua kupapau ma Aigupita, ua lawe mai anei oe ia makou e make ma keia waonahele? No ke aha la kau i hana mai ai ia makou pela, i ka lawe ana mai nei ia makou mai Aigupita mai?
11Chúng lại nói cùng Môi-se rằng: Xứ Ê-díp-tô há chẳng có nơi mộ phần, nên nỗi người mới dẫn chúng tôi vào đồng vắng đặng chết sao? Người đưa chúng tôi ra xứ Ê-díp-tô để làm chi?
12Aole anei keia o ka olelo a makou i hai aku ai ia oe ma Aigupita, i ka i ana aku, E waiho pela ia makou, i hookauwa aku ai makou na ko Aigupita? No ka mea, he mea maikai no makou ke hookauwa aku na ko Aigupita, aole hoi e make ma ka waonahele.
12Chúng tôi há chẳng có nói cùng người tại xứ Ê-díp-tô rằng: Để mặc chúng tôi phục dịch dân Ê-díp-tô, vì thà rằng phục dịch họ còn hơn phải chết nơi đồng vắng?
13Olelo aku la o Mose i na kanaka, mai makau oukou, e ku malie oukou, a e nana aku i ka hoola ana o Iehova, i ka mea ana e hoike mai ai ia oukou i keia la; no ka mea, o ko Aigupita a oukou i ike ai i keia la, aole oukou e ike hou ia lakou, mahope mau loa aku.
13Môi-se đáp cùng dân sự rằng: Chớ sợ chi, hãy ở đó, rồi ngày nay xem sự giải cứu Đức Giê-hô-va sẽ làm cho các ngươi; vì người Ê-díp-tô mà các ngươi ngó thấy ngày nay, thì chẳng bao giờ ngó thấy nữa.
14Na Iehova no e kaua aku no oukou, a e noho malie oukou.
14Đức Giê-hô-va sẽ chiến cự cho, còn các ngươi cứ yên lặng.
15I mai la o Iehova ia Mose, No ke ah a la oe e kahea mai nei ia'u? e i aku oe i na mamo a Iseraela, e hele aku lakou imua.
15Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Sao ngươi kêu van ta? Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên cứ đi;
16Aka, E hapai oe i kou kookoo, a e o aku kou lima maluna o ke kai, a e hookaawale ia: a e hele aku no na mamo o Iseraela mawaena o ke kai, ma kahi maloo.
16còn ngươi hãy giơ gậy lên, đưa tay trên mặt biển, phân rẽ nước ra, thì dân Y-sơ-ra-ên sẽ xuống biển đi như trên đất cạn.
17A na'u iho no e hoopaakiki i na naau o ko Aigupita, a e hahai mai lakou mahope o lakou nei: a e hoonani au ia'u iho ma o Parao la a ma kona poe koa a pau, a ma kona mau kaakaua, a me na hoohololio ona.
17Còn ta sẽ làm cho dân Ê-díp-tô cứng lòng theo dân Y-sơ-ra-ên xuống biển, rồi ta sẽ được rạng danh vì Pha-ra-ôn, cả đạo binh, binh xa, và lính kỵ người.
18A e ike auanei ko Aigupita, owau no Iehova, ke hoonani wau ia'u iho ma o Parao la, a me kona mau kaakaua, a me na hoohololio ona.
18Khi nào ta được rạng danh vì Pha-ra-ôn, binh xa, cùng lính kỵ người, thì người Ê-díp-tô sẽ rõ ràng ta là Đức Giê-hô-va vậy.
19A o ka anela o ke Akua i hele mamua o ke kahua hoomoana o ka Iseraela, hoi aku la ia mahope o lakou; a hele ae la hoi ke kia ao mai mua ao o lakou, a ku iho la mahope o lakou.
19Thiên sứ của Đức Chúa Trời đã đi trước trại quân của dân Y-sơ-ra-ên lộn lại đi sau; còn trụ mây vốn đi trước trại quân, lại ở về sau;
20Hele mai la ia mawaena o ko Aigupita poe a me ka Iseraela: a lilo ia i ao pouli; a hoomalamalama mai no nae i ka po; nolaila, aole i hookokoke mai kela poe i keia mai ia po a ao.
20trụ mây đứng về giữa khoảng trại người Ê-díp-tô và trại dân Y-sơ-ra-ên, làm áng mây tối tăm cho đàng nầy, soi sáng ban đêm cho đàng kia; nên trọn cả đêm hai trại chẳng hề xáp gần nhau được.
21O aku la o Mose i kona lima maluna o ke kai; na Iehova i hookahe ke kai me ka makani ikaika, mai ka hikina mai, i kela po a ao, a lilo iho la ke kai i aina maloo, a ua maheleia ae la na wai.
21Vả, Môi-se giơ tay ra trên biển, Đức Giê-hô-va dẫn trận gió đông thổi mạnh đến đùa biển lại trọn cả đêm; Ngài làm cho biển bày ra khô, nước phân rẽ.
22Hele mai la na mamo a Iseraela mawaena o ke kai ma kahi maloo: a lilo ka wai i pali no lakou ma ko lakou lima akau a me ko lakou lima hema.
22Dân Y-sơ-ra-ên xuống biển, đi như trên đất cạn; còn nước làm thành một tấm vách ngăn bên hữu và bên tả.
23Hahai mai la ko Aigupita, a hele mai mahope o lakou, o na lio a pau o Parao, a me kona mau kaakaua, a me na hoohololio iwaena o ke kai.
23Người Ê-díp-tô bèn đuổi theo; hết thảy ngựa, binh xa cùng lính kỵ của Pha-ra-ôn đều theo xuống giữa biển.
24A hiki i ka wati wanaao, nana mai la o Iehova i ka poe kaua o Aigupita, mai ke kia ahi a me ke ao mai, a hoopilikia ae la i ka poe kaua o Aigupita.
24Vả, đến canh sáng, Đức Giê-hô-va ở trong lòng trụ mây và lửa, nhìn ra thấy trại quân Ê-díp-tô, bèn làm cho họ phải rối loạn.
25Hoohemohemo iho la ia i na huila o ko lakou mau kaakaua, i hele pupu ai lakou; no ia mea, olelo mai la ko Aigupita, E auhee kakou mai ke alo aku o ka Iseraela; no ka mea, ua kaua mai no o Iehova me lakou pu i ko Aigupita.
25Ngài tháo bánh xe của họ, khiến dẫn dắt cực nhọc. Người Ê-díp-tô bèn nói nhau rằng: Ta hãy trốn khỏi dân Y-sơ-ra-ên đi, vì Đức Giê-hô-va thế dân đó mà chiến cự cùng chúng ta.
26Olelo mai la o Iehova ia Mose, E o aku kou lima maluna o ke kai, i hoi hou mai ai ka wai maluna o ko Aigupita, maluna o ko lakou mau halekaa, a maluna o ko lakou poe hoohololio.
26Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy giơ tay ngươi ra trên biển, nước sẽ trở lấp người Ê-díp-tô, binh xa và lính kỵ của chúng nó.
27Hoo aku la no o Mose i kona lima maluna o ke kai, a hoi mai no ke kai i kona piha ana i ka wa e pualena ana o ke ao; auhee aku la ko Aigupita i ka loaa ana o ka wai; a lulu iho la o Iehova i ko Aigupita iloko o ke kai.
27Môi-se bèn giơ tay mình ra trên biển, lối sáng mai, nước trở lấp phủ đáy biển lại, người Ê-díp-tô chạy trốn bị nước chận; vậy Đức Giê-hô-va xô họ xuống giữa biển.
28Hoi hou aku la ke kai, a popoi iho la maluna o na kaakaua, a me na hoohololio, a me ka poe koa a pau o Parao i hele mai iloko o ke kai mahope o lakou: aole loa kekahi o lakou i koe.
28Thế thì, nước trở lại bao phủ binh xa, lính kỵ của cả đạo binh Pha-ra-ôn đã theo dân Y-sơ-ra-ên xuống biển, chẳng còn sót lại một ai.
29Aka, o na mamo a Iseraela, hele mai la lakou ma kahi maloo iwaenakonu o ke kai: a o na wai, he pali ia no lakou ma ko lakou lima akau, a me ko lakou lima hema.
29Song dân Y-sơ-ra-ên đi giữa biển như trên đất cạn; nước làm thành vách ngăn bên hữu và bên tả.
30Pela i hoola mai ai o Iehova i ka Iseraela ia la, mai ka lima o ko Aigupita mai; a ike aku la ka Iseraela i ko Aigupita maluna o kahakai, ua make.
30Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va giải cứu dân Y-sơ-ra-ên thoát khỏi tay người Ê-díp-tô; dân ấy thấy người Ê-díp-tô chết trên bãi biển.
31Ike aku la ka Iseraela i kela hana nui a Iehova i hana aku ai i ko Aigupita: a makau iho la na kanaka ia Iehova; a manaoio aku la lakou ia Iehova, a me kana kauwa o Mose.
31Dân Y-sơ-ra-ên thấy việc lớn lao mà Đức Giê-hô-va đã làm cho người Ê-díp-tô, nên kính sợ Ngài, tin Ngài và Môi-se, là tôi tớ Ngài.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.