Pukaana
Chapter 3
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1HANAI iho la o Mose i na holoholona a Ietero a kona makuahonowaikane, a ke kahuna ma Midiana; alakai aku la no ia i na holoholona ma ke kua o ka waonahele, a hiki aku la i ke kuahiwi o ke Akua, i Horeba.
1Vả, Môi-se chăn bầy chiên cho Giê-trô, ông gia mình, là thầy tế lễ tại xứ Ma-đi-an; dẫn bầy chiên qua phía bên kia đồng vắng, đến núi của Đức Chúa Trời, là núi Hô-rếp.
2Ikea mai la e ia ka anela o Iehova maloko o ka lapalapa o ke ahi mawaenakonu o ka laalaau: nana aku la ia, aia hoi, e aa ana ka laalaau i ko ahi, aole nae i pau ka laau.
2Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra cùng người trong ngọn lửa, giữa bụi gai kia. Người nhìn thấy cả bụi gai đang cháy, nhưng không hề tàn.
3I iho la o Mose, E kipa ae no wau e ike i keia mea nui, i ka mea i pau ole ai ka laau i ke ahi.
3Môi-se bèn nói rằng: Ta hãy tẻ bước lại đặng xem sự lạ lớn nầy, vì cớ sao bụi gai chẳng tàn chút nào.
4A ike mai la o Iehova i kona huli ana e makaikai, hea mai la ke Akua ia ia mailoko mai o ua laalaau la, E Mose, e Mose. I aku la ia, Eia no wau.
4Đức Giê-hô-va thấy người tẻ bước lại xem, Đức Chúa Trời bèn ở giữa bụi gai gọi rằng: Hỡi Môi-se, hỡi Môi-se! Người thưa rằng: Có tôi đây!
5I mai la kela, Mai hookokoke mai oe: e wehe ae oe i kou mau kamaa mai kou mau kapuwai aku, no ka mea, o kahi au e ku nei, he aina hoano ia.
5Đức Chúa Trời phán rằng: Chớ lại gần chốn nầy, Hãy cổi giầy ngươi ra, vì chỗ ngươi đang đứng là đất thánh.
6I mai la hoi oia, Owau no ke Akua o kou makuakane, ke Akua o Aberahama, ke Akua o Isaaka, ke Akua hoi o Iakoba. Papani iho la o Mose i kona maka; no ka mea, ua makau ia ke nana aku i ke Akua.
6Rồi Ngài lại nói: Ta là Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi, Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp. Môi-se liền che mặt, vì sợ nhìn đến Đức Chúa Trời.
7I mai la o Iehova, I kuu nana ana ua ike no wau i ka luhi ana o ko'u poe kanaka ma Aigupita, ua lohe no hoi au i ka lakou kaniuhu ana, no na luna hooluhi o lakou; ua ike hoi au i ko lakou ehaeha ana.
7Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta đã thấy rõ ràng sự cực khổ của dân ta tại xứ Ê-díp-tô, và có nghe thấu tiếng kêu rêu vì cớ người đốc công của nó; phải, ta biết được nỗi đau đớn của nó.
8Ua iho mai nei au ilalo nei e hookuu ia lakou mai ka lima mai o ko Aigupita, a e lawe mai ia lakou mai ia aina mai, a kekahi aina maikai. a nui no hoi. he aina e kahe ana o ka waiu a me ka meli; i kahi o ka poe Kanaana, a me ka Heta, a me ka Amora, a me ka Pereza, a me ka Hiva, a me ka Iebusa.
8Ta ngự xuống đặng cứu dân nầy khỏi tay người Ê-díp-tô, dẫn từ xứ ấy lên đến một xứ kia đẹp đẽ và rộng rãi, đượm sữa và mật, tức là nơi dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít và dân Giê-bu-sít ở.
9Eia hoi, no ka mea, ua hiki mai io'u nei ke kaniuhu ana o na mamo a Iseraela; a na ike no hoi au i ka luhi ana a ko Aigupita i hooluhi iho ai ia lakou.
9Nầy, tiếng kêu rêu của dân Y-sơ-ra-ên thấu đến ta, và ta đã thấy dân Ê-díp-tô hà hiếp chúng nó thể nào;
10Nolaila la, e hele mai oe, a na'u no oe e hoouna aku io Parao la, i lawe mai ai oe i o'u poe kanaka, i na mamo a Iseraela mailoko ae o Aigupita.
10vậy bây giờ, hãy lại đây, đặng ta sai ngươi đi đến Pha-ra-ôn, để dắt dân ta, là dân Y-sơ-ra-ên, ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
11I aku la o Mose i ke Akua, Owai la wau, i hele aku ai au io Parao la, a i lawe mai ai hoi au i na mamo a Iseraela mailoko mai o Aigupita?
11Môi-se bèn thưa rằng: Tôi là ai, dám đi đến Pha-ra-ôn, đặng dắt dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô?
12I mai la kela, He oiaio, owau no kekahi me oe, eia hoi ka hoailona o ko'u hoouna ana aku ia oe; i ka wa au e lawe mai ai i ka poe kanaka mai Aigupita mai, e hoomana auanei oukou i ke Akua ma keia kuahiwi.
12Đức Chúa Trời phán rằng: Ta sẽ ở cùng ngươi; nầy là điều làm dấu cho ngươi biết rằng ta đã sai ngươi đi: Khi ngươi dắt dân sự ra khỏi xứ Ê-díp-tô rồi, thì các ngươi sẽ phụng sự Đức Chúa Trời tại trên núi nầy.
13Ninau aku la o Mose i ke Akua, Aia hoi, a hiki aku au i na mamo a Iseraela, a e olelo au ia lakou, Na ke Akua o ko oukou poe kupuna owau i hoouna mai io oukou nei, a e ninau lakou ia'u, Owai kona inoa? Pehea la hoi ka'u e olelo aku ai ia lakou?
13Môi-se thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Nầy, tôi sẽ đi đến dân Y-sơ-ra-ên, nói cùng họ rằng: Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi sai ta đến cùng các ngươi; nhưng nếu họ hỏi: Tên Ngài là chi? thì tôi nói với họ làm sao?
14I mai la ke Akua ia Mose, OWAU MAU LOA AKU NO. I mai la hoi oia, Penei kau e olelo aku ai i na mamo a Iseraela, OWAU MAU, oia ka i hoouna mai ia'u io oukou nei.
14Đức Chúa Trời phán rằng: Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu; rồi Ngài lại rằng: Hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Đấng Tự Hữu đã sai ta đến cùng các ngươi.
15I hou mai la ke Akua ia Mose, Penei oe e olelo aku ai i na mamo a Iseraela, Na Iehova ke Akua o ko oukou poe kupuna, ke Akua o Aberahama, ke Akua o Isaaka, ke Akua o Iakoba, owau i hoouna mai io oukou nei. Oia no ko'u inoa mau loa, oia hoi ko'u mea e hoomanaoia i ia hanauna aku ia hanauna aku.
15Đức Chúa Trời lại phán cùng Môi-se rằng: Ngươi sẽ nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi, Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, sai ta đến cùng các ngươi. Aáy đó là danh đời đời của ta, ấy sẽ là kỷ niệm của ta trải qua các đời.
16O hele oe, a e hoakoakoa ae i ka poe lunakahiko o ka Iseraela, a e olelo aku ia lakou, Ua ikeia'ku e au o Iehova ke Akua o ko oukou poe kupuna, ke Akua o Aberahama, o Isaaka a o Iakoba; ua olelo mai oia, Ua ike io no au ia oukou, a me ka mea i hanaia mai ia oukou ma Aigupita.
16Hãy đi, hội hiệp các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, mà nói cùng họ rằng: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi, Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, đã hiện ra cùng ta mà phán rằng: Thật vậy, ta đã thăm viếng các ngươi, thấy điều họ đãi các ngươi tại xứ Ê-díp-tô,
17Ua olelo hoi au, Na'u no oukou e lawe aku iluna, mailoko ae o ka popilikia o Aigupita, a hiki i ka aina o ka Kanaana a me ka Heta a me ka Amora a me ka Pereza a me ka Hiva, a me ka Iebusa, i ka aina e kahe ana o ka waiu a me ka meli.
17nên ta đã phán rằng: Ta sẽ rút các ngươi ra khỏi cảnh khổ tại xứ Ê-díp-tô, đặng đem lên xứ của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít, tức là một xứ đượm sữa và mật.
18A e hoolohe mai lakou i kou leo: a e hele pu oe me ka poe lunakahiko o ka Iseraela i ke alii o Aigupita, a e olelo aku oukou ia ia, Ua halawai mai me makou o Iehova ke Akua o ka poe Hebera: no ia mea, e hookuu mai oe ia makou e hele ma ka waonahele, i ekolu la hele, e kaumaha aku ai na Iehova ko makou Akua.
18Dân sự sẽ vâng theo lời ngươi; vậy, ngươi và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên hãy đi yết-kiến vua xứ Ê-díp-tô mà tâu rằng: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, đã hiện ra cùng chúng tôi. Vậy bây giờ, xin để cho chúng tôi đi đến nơi đồng vắng, cách chừng ba ngày đường đặng dâng của lễ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi.
19Ua ike no nae au, aole e hookuu mai ke alii o Aigupita ia oukou, aole no ma ka lima ikaika.
19Vả, ta biết rằng dẫu lấy quyền lực ép buộc vua Ê-díp-tô, thì người cũng chẳng bao giờ cho các ngươi đi!
20Aka, e o aku no wau i ko'u lima, a e paopao wau ia Aigupita me na mea mana a pau a'u e hana aku ai mawaena konu o lakou: a mahope e hookuu no oia ia oukou.
20Nhưng ta sẽ giơ tay ra hành xứ Ê-díp-tô bằng các phép lạ ta làm giữa xứ đó, sau rồi họ sẽ cho các ngươi đi.
21Ae haawi aku wau i ka lokomaikai i keia poe kanaka imua o na maka o ko Aigupita, a i ka wa a oukou e hele mai ai, aole oukou e hele nele mai.
21Ta sẽ làm cho dân nầy được ơn trước mắt người Ê-díp-tô; vậy, khi nào các ngươi ra đi, thì sẽ chẳng ra đi tay không;
22E noi aku no kela wahine keia wahine i kona hoalauna, a i ka mea e noho pu ana maloko o kona hale, i na mea kala, a me na mea gula, a me na mea aahu, a e hoaahu iho oukou i ka oukou poe keikikane, a me ka oukou poe kaikamahine; e hao hoi oukou i ko Aigupita.
22nhưng mỗi người đàn bà sẽ hỏi xin người nữ lân cận, cùng kẻ ở tạm nhà mình những đồ bằng vàng, bằng bạc và quần áo, mặc lấy cho con trai con gái mình. Các ngươi sẽ lột trần dân Ê-díp-tô là như vậy.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.