Exodus 3
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Mosi loe Midian kami qaima, amsae Jethro ih tuu to toep pae; praezaek taeng ih mae ah tuunawk to a toep moe, Sithaw ih mae Horeb ahmuen ah a phak.
1Vả, Môi-se chăn bầy chiên cho Giê-trô, ông gia mình, là thầy tế lễ tại xứ Ma-đi-an; dẫn bầy chiên qua phía bên kia đồng vắng, đến núi của Đức Chúa Trời, là núi Hô-rếp.
2To ah Angraeng ih van kami to hmai kangqong aqam kabuk thing thung hoiah anih khaeah angphong; Mosi mah khet naah, kabuk thing loe hmai angqong, toe thing loe hmai mah kangh ai tito a hnuk.
2Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra cùng người trong ngọn lửa, giữa bụi gai kia. Người nhìn thấy cả bụi gai đang cháy, nhưng không hề tàn.
3To pongah Mosi mah, Tipongah kabuk thing loe hmai mah kang ai loe! Kalen parai kamtueng hmuen hae ka khet noek han, tiah a poek.
3Môi-se bèn nói rằng: Ta hãy tẻ bước lại đặng xem sự lạ lớn nầy, vì cớ sao bụi gai chẳng tàn chút nào.
4To tiah kaom hmuen to Mosi mah caeh moe, khet, tiah Angraeng mah hnuk naah, Sithaw mah anih to aqam kabuk thing thung hoiah Mosi! Mosi! tiah kawk.
4Đức Giê-hô-va thấy người tẻ bước lại xem, Đức Chúa Trời bèn ở giữa bụi gai gọi rằng: Hỡi Môi-se, hỡi Môi-se! Người thưa rằng: Có tôi đây!
5Sithaw mah, Haeah anghnai hmah; na khokpanai to angkhring ah; nang doethaih ahmuen loe hmuenciim ah oh, tiah a naa.
5Đức Chúa Trời phán rằng: Chớ lại gần chốn nầy, Hãy cổi giầy ngươi ra, vì chỗ ngươi đang đứng là đất thánh.
6To pacoengah, Kai loe nam pa ih Sithaw, Abraham ih Sithaw, Issak ih Sithaw hoi Jakob ih Sithaw ah ka oh, tiah a naa. Mosi mah Sithaw khet han zit moe, a mikhmai to hawk ving.
6Rồi Ngài lại nói: Ta là Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi, Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp. Môi-se liền che mặt, vì sợ nhìn đến Đức Chúa Trời.
7Angraeng mah, Izip prae ah kaom kai ih kaminawk patangkhanghaih to ka hnuk boeh; misong tawnkungnawk mah pacaekthlaek o pongah, a qah o haih lok to ka thaih boeh; nihcae palungsethaih to ka panoek.
7Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta đã thấy rõ ràng sự cực khổ của dân ta tại xứ Ê-díp-tô, và có nghe thấu tiếng kêu rêu vì cớ người đốc công của nó; phải, ta biết được nỗi đau đớn của nó.
8Izip kaminawk ban thung hoiah nihcae to ka pahlong moe, to prae thung hoiah ka zaeh pacoengah, tahnutui hoi khoitui longhaih, Kanaan prae, Hit, Amor, Periz, Hiv hoi Jebus kaminawk ohhaih prae ah caeh haih hanah, kang hum tathuk boeh.
8Ta ngự xuống đặng cứu dân nầy khỏi tay người Ê-díp-tô, dẫn từ xứ ấy lên đến một xứ kia đẹp đẽ và rộng rãi, đượm sữa và mật, tức là nơi dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít và dân Giê-bu-sít ở.
9To pongah, khenah, Israel kaminawk qahhaih lok loe vaihi kai khaeah phak boeh; Izip kaminawk mah nihcae pacaekthlaekhaih doeh ka hnuk boeh.
9Nầy, tiếng kêu rêu của dân Y-sơ-ra-ên thấu đến ta, và ta đã thấy dân Ê-díp-tô hà hiếp chúng nó thể nào;
10To pongah vaihi angzo ah, Izip prae thung hoiah kai ih kami, Israel caanawk to zaeh hanah, Faro khaeah kang patoeh han, tiah a naa.
10vậy bây giờ, hãy lại đây, đặng ta sai ngươi đi đến Pha-ra-ôn, để dắt dân ta, là dân Y-sơ-ra-ên, ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
11Toe Mosi mah Sithaw khaeah, Kai loe kawbaktih kami ah maw ka oh moe, Faro khaeah ka caeh pacoengah, Izip prae thung hoiah Israel kaminawk to ka zaeh han loe? tiah a naa.
11Môi-se bèn thưa rằng: Tôi là ai, dám đi đến Pha-ra-ôn, đặng dắt dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô?
12To naah Sithaw mah, Kai mah kang oh thuih han hmang! Hae loe nang, kang patoeh boeh, tiah angmathaih ah om tih; Kai ih kaminawk Izip prae thung hoi na zaeh pacoengah loe, hae mae nuiah Sithaw na bok o tih, tiah a naa.
12Đức Chúa Trời phán rằng: Ta sẽ ở cùng ngươi; nầy là điều làm dấu cho ngươi biết rằng ta đã sai ngươi đi: Khi ngươi dắt dân sự ra khỏi xứ Ê-díp-tô rồi, thì các ngươi sẽ phụng sự Đức Chúa Trời tại trên núi nầy.
13Mosi mah Sithaw khaeah, Israel kaminawk khaeah ka caeh moe, nihcae khaeah, nangcae ampanawk ih Sithaw mah nangcae khaeah kai ang patoeh, tiah ka thuih pae naah, nihcae mah kai khaeah, Anih ih ahmin loe mi aa? tiah na dueng o nahaeloe, kawbang maw ka thuih pae han loe? tiah a naa.
13Môi-se thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Nầy, tôi sẽ đi đến dân Y-sơ-ra-ên, nói cùng họ rằng: Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi sai ta đến cùng các ngươi; nhưng nếu họ hỏi: Tên Ngài là chi? thì tôi nói với họ làm sao?
14Sithaw mah Mosi khaeah, KAI LOE KAI NI , tiah Israel kaminawk khaeah thui paeh; KAI, tiah ahmin kaom mah, nangcae khae ah kai ang patoeh, tiah thui paeh, tiah a naa.
14Đức Chúa Trời phán rằng: Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu; rồi Ngài lại rằng: Hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Đấng Tự Hữu đã sai ta đến cùng các ngươi.
15To pacoengah Sithaw mah Mosi khaeah, Israel kaminawk khaeah, Nam panawk ih Angraeng Sithaw, Abraham Sithaw, Issak Sithaw hoi Jakob Sithaw mah nangcae khaeah kai ang patoeh, hae loe dungzan ah kaom Kai ih ahmin ah oh, angzo han koi kaminawk boih mah pahnet thaih han ai ih ahmin ah oh, tiah a thuih, tiah thui paeh, tiah a naa.
15Đức Chúa Trời lại phán cùng Môi-se rằng: Ngươi sẽ nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi, Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, sai ta đến cùng các ngươi. Aáy đó là danh đời đời của ta, ấy sẽ là kỷ niệm của ta trải qua các đời.
16Caeh ah, Israel kacoehtanawk to nawnto pakhueng ah loe nihcae khaeah, Nam panawk ih Angraeng Sithaw, Abraham, Issak hoi Jakob ih Sithaw to kai khaeah angphong moe, nangcae khaeah kang paqaih, Izip prae ah nangcae nuiah a sak o ih hmuen ka hnuk boeh;
16Hãy đi, hội hiệp các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, mà nói cùng họ rằng: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi, Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, đã hiện ra cùng ta mà phán rằng: Thật vậy, ta đã thăm viếng các ngươi, thấy điều họ đãi các ngươi tại xứ Ê-díp-tô,
17Izip prae patangkhanghaih thung hoiah nangcae to kang zaeh moe, Kanaan, Hit, Amor, Periz, Hiv hoi Jebus kaminawk ih prae, tahnutui hoi khoitui longhaih prae thungah kang caeh o haih han, tiah lok ka thuih boeh, tiah thui paeh, tiah a thuih, tiah a naa.
17nên ta đã phán rằng: Ta sẽ rút các ngươi ra khỏi cảnh khổ tại xứ Ê-díp-tô, đặng đem lên xứ của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít, tức là một xứ đượm sữa và mật.
18Israel kacoehtanawk mah na lok to tahngai o tih; nang hoi Israel kacoehtanawk Izip siangpahrang khaeah caeh oh loe, anih khaeah, Hebru Angraeng Sithaw mah kaicae hae a tongh boeh; kaimacae ih Angraeng Sithaw khaeah, angbawnhaih ka sak o hanah, ni thumto thung praezaek ah na caehsak ah, tiah thui paeh.
18Dân sự sẽ vâng theo lời ngươi; vậy, ngươi và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên hãy đi yết-kiến vua xứ Ê-díp-tô mà tâu rằng: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, đã hiện ra cùng chúng tôi. Vậy bây giờ, xin để cho chúng tôi đi đến nơi đồng vắng, cách chừng ba ngày đường đặng dâng của lễ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi.
19Toe Izip siangpahrang loe kalen parai thacakhaih hnu ai ah loe, nangcae to caehsak mak ai, tito ka panoek.
19Vả, ta biết rằng dẫu lấy quyền lực ép buộc vua Ê-díp-tô, thì người cũng chẳng bao giờ cho các ngươi đi!
20To pongah ban ka payangh moe, Izip prae thungah dawnrai hmuennawk to ka sak boih han, to tiah prae to ka thuitaek han; to pacoengah ni Izip siangpahrang mah na caeh o sak vop tih.
20Nhưng ta sẽ giơ tay ra hành xứ Ê-díp-tô bằng các phép lạ ta làm giữa xứ đó, sau rồi họ sẽ cho các ngươi đi.
21Izip kaminawk mah hae kaminawk palung o thai hanah, tok ka sak han; to naah ni na tacawt o naah bangkrai ah na tacawt o mak ai;
21Ta sẽ làm cho dân nầy được ơn trước mắt người Ê-díp-tô; vậy, khi nào các ngươi ra đi, thì sẽ chẳng ra đi tay không;
22nongpata boih mah a imtaeng kami, a im ah kaom nongpatanawk hanah phoisa, sui hoi khukbuennawk to hni o ueloe, na capanawk hoi na canunawk to abuen o sak tih; to tiah Izip kaminawk ih hmuennawk to na la pae o tih, tiah a naa.
22nhưng mỗi người đàn bà sẽ hỏi xin người nữ lân cận, cùng kẻ ở tạm nhà mình những đồ bằng vàng, bằng bạc và quần áo, mặc lấy cho con trai con gái mình. Các ngươi sẽ lột trần dân Ê-díp-tô là như vậy.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.