Exodus
Chapter 6
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To naah Angraeng mah Mosi khaeah, Vaihi loe Faro khaeah ka sak han ih hmuen to na hnuh hoi tih boeh; ka ban thacakhaih rang hoiah nihcae to tacawtsak ueloe, ka ban thacakhaih rang hoiah a prae thung hoiah nihcae to haek tih boeh, tiah a naa.
1Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Bây giờ ngươi hãy xem những điều ta sẽ hành Pha-ra-ôn; vì nhờ tay quyền năng ép buộc vua đó sẽ tha và đuổi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ mình.
2Sithaw mah Mosi khaeah, Kai loe Angraeng ah ka oh;
2Đức Chúa Trời lại phán cùng Môi-se rằng: Ta là Đức Giê-hô-va.
3Abraham, Issak hoi Jakob khaeah, Lensawk Sithaw ah kang phong pae; toe ka hmin JEHOVAH hoiah nihcae khaeah kang phong pae ai.
3Ta đã hiện ra cùng Aùp-ra-ham, cùng Y-sác, và cùng Gia-cốp, tỏ mình là Đức Chúa Trời toàn năng; song về danh ta là Giê-hô-va, thì ta chưa hề tỏ cho họ biết.
4Nihcae angvin ah oh o haih, nihcae khaeah Kanaan prae to paek hanah, nihcae hoi lokmaihaih ka sak boeh.
4Ta cũng có lập giao ước cùng họ, để ban xứ Ca-na-an cho, là xứ họ đã kiều ngụ như khách ngoại bang.
5To pacoengah, Izip kaminawk mah tamna ah suek o ih, Israel kaminawk hanghaih lok to ka thaih naah, ka sak ih lokmaihaih to ka poek.
5Ta cũng có nghe lời than thở của dân Y-sơ-ra-ên bị người Ê-díp-tô bắt làm tôi mọi, bèn nhớ lại sự giao ước của ta.
6To pongah Israel kaminawk khaeah, Kai loe ANGRAENG ah ka oh; Izip kaminawk ih hmuenzit phawhhaih thung hoiah nangcae to kang loih o sak han; nihcae ih tamna ah ohhaih thung hoiah kang loih o sak moe, ban ka payangh pacoengah, thacak lokcaekhaih hoiah nangcae to kang loih o sak han.
6Vậy nên, ngươi hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Ta là Đức Giê-hô-va sẽ rút các ngươi khỏi gánh nặng mà người Ê-díp-tô đã gán cho, cùng giải thoát khỏi vòng tôi mọi; ta sẽ giơ thẳng tay ra, dùng sự đoán phạt nặng mà chuộc các ngươi.
7Kami maeto ah kaimah khaeah kang lak o han, Kai loe nangcae ih Sithaw ah ka oh han; to naah Kai loe nangcae ih Angraeng Sithaw, Izip kaminawk hmuenzit phawhhaih thung hoi zaehoikung ah ka oh, tiah na panoek o tih.
7Ta sẽ nhận các ngươi làm dân ta, và ta sẽ làm Đức Chúa Trời của các ngươi; các ngươi sẽ biết ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, đã rút các ngươi khỏi gánh nặng của người Ê-díp-tô.
8Kai mah Abraham, Issak hoi Jakob khaeah ban ka payangh moe, paek han lokkam ih prae thungah, kang caeh o sak han; to prae to nangcae hanah qawk ah kang paek han; Kai loe Angraeng ah ka oh, tiah thui paeh, tiah a naa.
8Ta sẽ dắt các ngươi vào xứ ta đã thề ban cho Aùp-ra-ham, cho Y-sác, cho Gia-cốp, mà cho các ngươi xứ đó làm cơ nghiệp: Ta là Đức Giê-hô-va.
9Hae lok hae Mosi mah Israel kaminawk khaeah thuih pae; toe palungboeng o, tamna ah ohhaih nung parai pongah tahngai pae o ai.
9Môi-se nói lại như vậy cho dân Y-sơ-ra-ên; nhưng vì bị sầu não và việc tôi mọi nặng nề, nên chẳng nghe Môi-se chút nào.
10To pacoengah Angraeng mah Mosi khaeah,
10Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng:
11a prae thung hoi Israel kaminawk tacawtsak hanah, Faro khaeah caeh ah loe, thui paeh, tiah a naa.
11Hãy đi tâu cùng Pha-ra-ôn, vua xứ Ê-díp-tô, phải cho dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ mình.
12Toe Mosi mah Angraeng khaeah, Khenah, Israel kaminawk mah mataeng doeh ka lok hae tahngai o ai nahaeloe, lok tongaah kai ih lok cae loe kawbang maw Faro mah na tahngai pae tih? tiah a naa.
12Nhưng Môi-se thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Nầy, tôi là một kẻ vụng miệng; dân Y-sơ-ra-ên chẳng có nghe lời tôi, Pha-ra-ôn há sẽ khứng nghe lời tôi sao?
13Angraeng mah Mosi hoi Aaron khaeah, Israel kaminawk hoi Izip siangpahrang Faro kawng to thuih pae, Israel kaminawk Izip prae thung hoi tacawt haih hanah nihnik khaeah lok a paek.
13Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se và A-rôn, bèn truyền cho hai người phải đi đến dân Y-sơ-ra-ên và Pha-ra-ôn, vua xứ Ê-díp-tô, đặng đem dân đó ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
14Hae kaminawk loe acaeng lu koek ah oh o; Israel calu Reuben ih caanawk loe Hanok, Pallu, Hezro hoi Karmi; hae kaminawk loe Rueben ih imthung takoh ah oh o.
14Đây là các trưởng tộc của những họ hàng dân Y-sơ-ra-ên. Các con trai của Ru-bên, tức là trưởng nam Y-sơ-ra-ên, là: Hê-nóc, Pha-lu, Hết-rôn và Cạt-mi. Đó là những họ hàng của Ru-bên.
15Simeon ih capanawk loe Jemuel, Jamin, Ohad, Jachin, Zohar hoi Kanaan tanuh ih capa Shaul cae hae ni; hae kaminawk loe Simeon ih imthung takoh ah oh o.
15Các con trai của Si-mê-ôn là: Giê-mu-ên, Gia-min, Ô-hát, Gia-kin, Xô-ha và Sau-lơ là con của vợ xứ Ca-na-an. Đó là họ hàng của Si-mê-ôn.
16Levi caanawk ih ahmin loe Gershon, Kohath hoi Merari; Levi loe saning cumvai qui thum, sarihto hing.
16Đây là tên các con trai của Lê-vi, tùy theo dòng dõi của họ: Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri. Lê-vi hưởng thọ được một trăm ba mươi bảy tuổi.
17Gershon capanawk hoi imthung takoh kaminawk loe Libni hoi Shimi.
17Các con trai của Ghẹt-sôn, tùy theo họ hàng mình: Líp-ni và Si-mê-y.
18Kohath ih capanawk loe Amram, Izhar, Hebron hoi Uzziel; Kohath loe saning cumvai qui thum, thumto hing.
18Các con trai của Kê-hát là: Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên. Kê-hát hưởng thọ được một trăm ba mươi ba tuổi.
19Merari ih capa hnik loe Mahli hoi Mushi; hae kaminawk loe Levi imthung takoh ah oh o.
19Các con trai của Mê-ra-ri là: Mách-li, và Mu-si. Đó là các họ hàng của Lê-vi, tùy theo dòng dõi của họ.
20Amram mah ampa ih tanuh Jokhebed to zu haih moe, anih mah Aaron hoi Mosi to a sak pae; Amram loe saning cumvai qui thum, sarihto hing.
20Vả, Am-ram lấy Giô-kê-bết, là cô mình, làm vợ; nàng sanh cho người A-rôn và Môi-se. Am-ram hưởng thọ được một trăm ba mươi bảy tuổi.
21Izhar capanawk loe Korah, Nepheg hoi Zikri.
21Các con trai của Dít-sê-ha là: Cô-rê, Nê-phết và Xiếc-ri.
22Uzziel capanawk loe Mishael, Elzaphan hoi Zithri.
22Các con trai của U-xi-ên là: Mi-sa-ên, Eân-sa-phan, và Sít-ri.
23Aaron mah Aminadab canu, Nashon ih tanuh, Elisheba to zu ah lak moe, anih mah Nadab, Abihu, Eleazar hoi Ithamar to sak.
23A-rôn cưới Ê-li-sê-ba, con gái của A-mi-na-đáp, em của Na-ha-sôn; nàng sanh cho người Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma.
24Korah ih capanawk loe Assir, Elkanah hoi Abiasaph; hae kaminawk loe Korah imthung takoh ah oh o.
24Các con trai của Cô-rê là: Aùt-si, Eân-ca-na và A-bi-a-sáp. Đó là các họ hàng của dân Cô-rê.
25Aaron capa Eleazar mah Putiel ih canu maeto zu ah lak moe, anih mah Phinehas to sak pae; hae kaminawk loe Levi kaminawk ih acaeng ah oh o.
25Ê-lê-a-sa, con trai của A-rôn, cưới con gái của Phu-ti-ên làm vợ; nàng sanh Phi-nê-a cho người. Đó là các trưởng tộc của nhà tổ phụ người Lê-vi, tùy theo họ hàng mình vậy.
26Angraeng mah Aaron hoi Mosi khaeah, Israel kaminawk ih misatuh kaminawk to Izip prae thung hoi tacawt haih ah, tiah a naa.
26Aáy, A-rôn và Môi-se nầy, tức là người mà Đức Giê-hô-va đã phán dạy rằng: Hãy tùy theo cơ đội, đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
27Nihnik loe Izip siangpahrang Faro khaeah Israel kaminawk Izip prae thung hoi tacawt haih hanah thuikung ah oh hoi; nihnik loe Mosi hoi Aaron hae ni.
27Aáy là hai người tâu cùng Pha-ra-ôn, vua xứ Ê-díp-tô, đặng đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ đó; ấy là Môi-se và A-rôn nầy.
28Angraeng mah Izip prae thungah, Mosi khae lokthuih pae naah,
28Vậy, trong ngày Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se tại xứ Ê-díp-tô,
29Angraeng mah Mosi khaeah, Kai loe Angraeng ah ka oh; kang thuih ih loknawk boih Izip siangpahrang Faro khaeah thui paeh, tiah a naa.
29thì Ngài có truyền rằng: Ta là Đức Giê-hô-va, hãy tâu lại cùng Pha-ra-ôn, vua xứ Ê-díp-tô, hết thảy mọi lời ta sẽ phán cùng ngươi.
30Toe Mosi mah Angraeng khaeah, Khenah, kai loe lok tongaah kami ah ka oh pongah, kawbang maw Faro mah ka lok hae tahngai tih? tiah a naa.
30Môi-se bèn thưa rằng: Nầy, tôi là người vụng miệng: Pha-ra-ôn há sẽ nghe tôi sao?

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.