Exodus 40
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To pacoengah Angraeng mah Mosi khaeah,
1Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
2Kaminawk amkhuenghaih kahni im to, khrah hmaloe koek, ni tangsuek naah sah ah.
2Ngày mồng một tháng giêng, ngươi sẽ dựng đền tạm.
3Hnukung thingkhong loe, to kahni imthung ah suem ah, to thingkhong loe payang ih kahni hoiah khuk ah.
3Hãy để trong đó cái hòm bảng chứng, rồi lấy màn phủ lại.
4A thungah caboi suem ah loe, hmuennawk boih caboi nuiah suem ah; to pacoengah hmaithawk paanghaih tung to suem ah loe, hmai to paaang ah.
4Cũng hãy đem bàn đến, chưng bày các đồ trên bàn cho có thứ tự, cùng chân đèn và thắp các đèn;
5Hmuihoih thlaekhaih hmaicam to hnukung thingkhong hmaa ah suem ah loe, kahni im akunhaih khongkha ah payang ih kahni hoiah pakaa ah.
5cũng hãy để bàn thờ bằng vàng dùng xông hương trước hòm bảng chứng, rồi xủ tấm màn nơi cửa đền tạm.
6Amkhuenghaih kahni im akunhaih khongkha hmaa ah, hmai angbawnhaih hmaicam to suem ah.
6Cũng hãy để bàn thờ về của lễ thiêu đằng trước cửa đền tạm;
7Kaminawk amkhuenghaih kahni im hoi hmaicam salakah sabae kathuk to suem ah loe, a thungah tui to lawn ah.
7và để cái thùng ở giữa khoảng hội mạc và bàn thờ; rồi đổ nước vào;
8Longhma taeng to paka boih ah loe, longhma akunhaih khongkha taengah kahni to payang ah.
8lại chừa hành lang chung quanh và xủ tấm màn nơi cửa hành lang.
9Tak bawhhaih situi to la ah loe, kahni im hoi a thungah kaom hmuennawk to nok boih ah; to ih hmuennawk to ciimsak boih ah, to tiah ni kahni im to ciim vop tih.
9Đoạn, ngươi hãy lấy dầu xức mà xức đền tạm và các đồ để trong đó; biệt riêng đền tạm và các đồ phụ tùng của đền tạm ra thánh, thì sẽ làm thánh vậy.
10To pacoengah hmai angbawnhaih hmaicam hoi hmuennawk to situi nok boih ah loe, hmaicam to ciimsak ah; to tiah ni kaciim koek hmaicam ah om tih.
10Cũng hãy xức dầu bàn thờ về của lễ thiêu, và các đồ phụ tùng của bàn thờ; rồi biệt riêng ra thánh, thì bàn thờ sẽ làm rất thánh.
11Kathuk sabae hoi pahnuthaih a khok to situi nok ah loe, ciimsak ah.
11Cũng hãy xức dầu cho thùng và chân thùng; biệt thùng riêng ra thánh.
12Aaron hoi a caanawk to amkhuenghaih kahni im khongkha ah caehhaih ah loe, tui amhlusak ah.
12Đoạn, hãy dẫn A-rôn cùng các con trai người đến gần cửa hội mạc, rồi tắm họ trong nước.
13Aaron hanah kaciim kahni to angkhuksak ah, qaima toksak thai hanah, situi to nok ah loe ciimsak ah.
13Ngươi hãy mặc áo thánh cho A-rôn, xức dầu và biệt người riêng ra thánh; vậy người sẽ làm chức tế lễ trước mặt ta.
14Anih ih caanawk to angzo haih ah loe, laihaw kasawk to angkhuksak ah.
14Hãy dẫn các con trai người đến gần, rồi mặc áo lá cho họ;
15Kai khaeah qaima tok a sak o thai hanah, ampa situi hoi na bawh baktih toengah, a caanawk doeh bawh ah; a caanawk dung khoek to qaima ah oh poe han ih ni nihcae to situi hoiah na bawh, tiah a naa.
15xức dầu cho như ngươi đã xức cho cha họ, thì họ sẽ làm chức tế lễ trước mặt ta. Sự xức dầu sẽ phong cho họ chức tế lễ mãi mãi trải qua các đời.
16Angraeng mah thuih ih lok baktih toengah, Mosi mah hmuennawk to sak boih.
16Môi-se làm y như mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn mình.
17To pongah saning hnetto haih, khrah tangsuek, ni hmaloe koek ah, Mosi mah kahni im to a sak.
17Đến ngày mồng một tháng giêng về năm thứ hai, thì đền tạm đã dựng.
18Mosi mah kahni im sak naah, akhok pahnuthaih hmuennawk to kacakah a sak, thingphaeknawk to a sak moe, takraenghaih thingnawk to sak pacoengah, tungnawk to a sak.
18Môi-se dựng đền tạm, để mấy lỗ trụ, đóng ván, thả xà ngang và dựng trụ.
19To pacoengah kahni im to payuengh moe, Angraeng mah thuih ih lok baktih toengah, kani im ranuih to a khuk.
19Người căng bong trên đền tạm, rồi trải lá phủ bong lên trên, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
20Hnukung thingkhong to a lak moe, to thingkhong nuiah aputhaih thing to a hawt pacoengah, palungnathaih tangkhang to a nuiah suek.
20Đoạn, người cũng lấy bảng chứng, để trong hòm, xỏ đòn khiêng vào, để nắp thi ân lên trên hòm.
21Thingkhong to kahni imthung ah a sin moe, Angraeng mah thuih ih lok baktih toengah, hnukung thingkhong to payang ih kahni hoiah a khuk.
21Người khiêng hòm vào đền tạm và treo màn để che chỗ chí thánh, phủ hòm bảng chứng lại, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
22Mosi mah caboi to amkhuenghaih kahni imthung aluek bang, payang ih kahni tasa bangah a suek.
22Người cũng để cái bàn trong hội mạc, về phía bắc đền tạm ở ngoài bức màn;
23Angraeng mah Mosi khaeah thuih ih lok baktih toengah, Angraeng hmaa ah takaw to a suek pae.
23rồi sắp một hàng bánh ở trên, trước mặt Đức Giê-hô-va, y như lời Ngài đã phán dặn Môi-se.
24Hmaithawk paaanghaih tung doeh kahni imthung, kahni im aloih bang ah a suek.
24Để chân đèn trong hội mạc về phía nam, đối diện cùng cái bàn.
25Angraeng mah thuih ih lok baktih toengah, Angraeng hmaa ah hmaiim to paaang.
25Người thắp đèn trước mặt Đức Giê-hô-va, y như lời Ngài đã phán dặn Môi-se.
26Mosi mah sui hmaicam to amkhuenghaih kahni imthung, payang ih kahni hmaa ah a suek.
26Để bàn thờ bằng vàng trước bức màn trong hội mạc;
27Angraeng mah thuih ih lok baktih toengah, to ah hmuihoih to a thlaek.
27trên đó người xông hương, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
28To pacoengah kahni im akunhaih thok taengah kahni to payang.
28Người cũng xủ màn nơi cửa đền tạm.
29Kaminawk amkhuenghaih kahni im akunhaih thok taengah hmai angbawnhaih hmacam to a suek moe, Angraeng mah thuih ih lok baktih toengah, to hmaicam nuiah hmai angbawnhaih hoi cang angbawnhaih to a sak.
29Đoạn, người để bàn thờ về của lễ thiêu nơi cửa đền tạm, dâng trên đó của lễ thiêu và của lễ chay, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
30Amkhuenghaih kahni im hoi hmaicam salakah, sabae kathuk to a suek moe, amsaehhaih tui to a lawn.
30Cũng để thùng về giữa khoảng hội mạc và bàn thờ, cùng đổ nước vào đặng tắm rửa;
31Mosi, Aaron hoi a caanawk loe to ih tui hoiah khok bannawk to amsaeh o;
31Môi-se, A-rôn cùng các con trai của A-rôn, rửa tay và chân mình vào đó.
32amkhuenghaih kahni imthung ah akun o moe, hmaicam taengah a caeh o naah, Angraeng mah Mosi khaeah thuih ih lok baktih toengah, nihcae loe tui hoiah amsaeh o.
32Khi nào họ vào hội mạc và lại gần bàn thờ thì rửa mình, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
33To pacoengah Mosi mah hmaicam hoi longhma pakaahaih kahni to payang; longhma akunhaih khongkha taengah kahni to payang. To tiah Mosi mah toksakhaih to pacoeng.
33Chung quanh đền tạm và bàn thờ, người cũng chừa hành lang, và xủ màn nơi cửa hành lang. Aáy, Môi-se làm xong công việc là như vậy.
34To naah amkhuenghaih kahni im to tamai mah khuk, kahni im loe Angraeng lensawkhaih hoiah koi.
34Aùng mây bao phủ hội mạc và sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền tạm,
35Amkhuenghaih kahni im to tamai mah khuk khoep pongah, Mosi loe kahni imthung ah akun thai ai; to naah kahni im loe Angraeng lensawkhaih hoiah koi.
35cho đến nỗi Môi-se vào chẳng đặng, vì áng mây bao phủ ở trên và sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền tạm.
36Israel kaminawk kholong caeh o naah, kahni im nui hoiah tamai angkhoeng pacoengah ni a caeh o vop;
36Vả, trong các sự hành trình của dân Y-sơ-ra-ên, khi nào áng mây từ đền tạm ngự lên thì họ ra đi;
37tamai angkhoeng tahang ai nahaeloe, tamai angkhoeng tahang ai karoek to, kholong caeh o ai.
37còn nếu áng mây không ngự lên thì họ cũng không đi, cho đến ngày nào áng mây ngự lên.
38Israel kaminawk kholong caeh o nathung, nihcae boih mikhnuk ah, athun naah Angraeng ih tamai to kahni im nuiah oh, khoving naah loe tamai nuiah hmai to oh.
38Vì trong các sự hành trình của dân Y-sơ-ra-ên, thì áng mây của Đức Giê-hô-va ở trên đền tạm ban ngày, và có lửa ở trên đó ban đêm hiện trước mặt cả dân Y-sơ-ra-ên.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.