Pukaana 33
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1OLELO mai la o Iehova ia Mose, o hele, e pii aku, o oe a me na kanaka au i alakai mai nei, mai ka aina o Aigupita mai, a i ka aina a'u i hoohiki ai ia Aberahama, a ia Isaaka, a ia Iakoba, i ka i ana iho, Ke haawi nei au ia na kau poe mamo.
1Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Nầy, ngươi cùng dân sự mà ngươi đã dẫn ra khỏi xứ Ê-díp-tô hãy từ đây đi lên xứ ta đã thề ban cho Aùp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp, rằng: Ta sẽ ban xứ đó cho dòng dõi ngươi.
2A e hoouna aku au i ko'u anela imua ou; a na'u no e kipaku aku i ka Kanaana, i ka Amora, i ka Heta, i ka Pereza, i ka Heva, a i ka Iebusa;
2Ta sẽ sai một thiên sứ đi trước ngươi, và sẽ đuổi dân Ca-na-an, dân A-mô-rít, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít,
3A i ka aina e kahe ana o ka waiu a me ka mele; no ka mea, aole au e pii aku iwaena ou, no ka mea, he poe kanaka a-i oolea oukou; o hoopau auanei au ia oe ma ke ala.
3đặng đưa các ngươi vào xứ đượm sữa và mật; nhưng ta không cùng lên với ngươi đâu, vì ngươi là dân cứng cổ, e ta diệt ngươi dọc đường chăng.
4A lohe na kanaka i keia olelo o ka hewa, uwe iho la lakou, aohe kanaka i hookomo i kona kahiko ana.
4Khi dân sự nghe lời hăm nầy, bèn đều để tang, không ai đeo đồ trang sức hết.
5No ka mea, ua olelo mai o Iehova ia Mose, E i aku oe i na mamo a Iseraela, He poe kanaka a-i oolea oukou: i ka minute hookahi, e pii aku no au iwaena konu ou, a e hoopau ia oe, Nolaila, e wehe oe i kou kahiko ana mai ou aku la, i ike au i ka mea e hana aku ai ia oe.
5Vì Đức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se rằng: Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên: Các ngươi là dân cứng cổ, nếu ta cùng lên với các ngươi chỉ trong một lúc, thì ta sẽ diệt các ngươi! Vậy, bây giờ, hãy cất đồ trang sức trong mình ngươi đi, đặng ta biết liệu đãi ngươi cách nào.
6A wehe na mamo a Iseraela i ko lakou kahiko ana, ma ka mauna o Horeba.
6Thế thì, từ núi Hô-rếp, dân Y-sơ-ra-ên đã lột các đồ trang sức mình.
7A lawe ae la o Mose i ka halelewa, a kukulu iho la mawaho o kahi e hoomoana'i, ma kahi mamao aku o ke kahua i hoomoana'i; a kapa ae la oia ia mea, o ka Halelewa o ke anaina kanaka. A o kela mea keia mea i imi ia Iehova, hele aku la ia iwaho i ka halelewa o ke anaina kanaka, ka mea mawaho o kahi i hoomoana'i.
7Môi-se lấy Trại đem dựng xa ra ngoài trại quân, gọi là hội mạc, phàm ai muốn cầu khẩn Đức Giê-hô-va, thì ra đến hội mạc ở ngoài trại quân.
8A i ka hele ana aku o Mose i ka halelewa, ala ae la na kanaka a pau iluna, a ku no kela kanaka keia kanaka ma ka puka o kona halelewa, a nana aku la mahope o Mose, a hala ia iloko o ka halelewa.
8Vừa khi Môi-se ra đến Trại, thì cả dân sự chổi dậy, mỗi người đứng nơi cửa trại mình, ngó theo Môi-se cho đến khi nào người vào trong Trại rồi.
9A i ko Mose komo ana iloko o ka halelewa, iho mai la ke kia ao, a ku ma ka puka o ka halelewa, a kamailio mai la [o Iehova] me Mose.
9Vừa khi người vào đó, thì trụ mây giáng xuống dừng tại cửa Trại, và Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se.
10A ike ae la na kanaka a pau i ke kia ao e ku ana ma ka puka o ka halelewa, a ku ae la na Kanaka a pau iluna, a hoomana aku la, o kela kanaka keia kanaka ma ka puka o kona halelewa.
10Cả dân sự thấy trụ mây dừng tại cửa Trại, bèn đứng dậy, rồi mỗi người đều sấp mình xuống nơi cửa trại mình.
11A kamailio mai la o Iehova ia Mose, he maka no he maka, e like me ke kamailio ana o ke kanaka me kona hoa. A hoi aku la ia iloko o kahi e hoomoana'i, a me kana kauwa, o Iosua, ke keiki a Nuna, he kanaka opiopio; aka, aole ia i hele iwaho o ka halelewa.
11Đức Giê-hô-va đối diện phán cùng Môi-se, như một người nói chuyện cùng bạn hữu mình. Đoạn, Môi-se trở về trại quân, còn kẻ hầu trẻ của người, tên là Giô-suê, con trai của Nun, không ra khỏi Trại.
12I aku la o Mose ia Iehova, E nana hoi, ke olelo mai nei oe ia'u, E kai mai oe i keia poe kanaka; aole nae oe i hoike mai ia'u i ka mea au e hoouna pu ai me au. Aka, na olelo mai no, Ua ike no wau ia oe ma ka inoa, a e loaa ia oe ka lokomaikaiia i ko'u mau maka.
12Môi-se thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Nầy, Chúa phán cùng tôi rằng: Hãy đem dân sự nầy lên! Song Chúa chẳng cho tôi biết Chúa sai ai đi cùng tôi. Vả, Chúa có phán rằng: Ta biết ngươi vì danh ngươi, và ngươi được ơn trước mặt ta.
13Nolaila, ke nonoi aku nei au ia oe, ina i loaa ia'u ka lokomaikaiia i kou mau maka, e hoike mai oe ia'u i kou aoao, i ike aku au ia oe, i loaa ia'u ka lokomaikaiia i kou mau maka: a e hoomanao hoi, o kou aupuni no keia poe kanaka.
13Vậy bây giờ, nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin cho tôi biết đường của Chúa, để cho tôi biết Chúa và được ơn trước mặt Ngài. Xin cũng hãy nghĩ rằng dân nầy là dân của Ngài!
14I mai la keia, E hele pa ne ko'u maka, a na'u no oe e hoomaha aku.
14Đức Giê-hô-va đáp rằng: Chính mình ta sẽ đi cùng ngươi, và ta sẽ cho ngươi an nghỉ.
15I aka la keia, I ole e hele pu kou maka, mai lawe aku oe ia makou.
15Môi-se thưa rằng: Nếu chính mình Ngài chẳng đi, xin đừng đem chúng tôi lên khỏi đây.
16Mahea la e ikeia'i ua loaa ia'u a me kou poe kanaka ka lokomaikaiia i kou maka? Aole anei ma kou hele pu ana me makou? A pela makou e hookaawaleia'i, owau a me ko'u poe kanaka, mai na kanaka e aka a pau loa e noho ana maluna o ka honua.
16Lấy cớ chi mà người ta sẽ biết rằng tôi cùng dân sự Ngài được ơn trước mặt Ngài? Có phải khi nào Ngài cùng đi với chúng tôi chăng? Thế thì, tôi cùng dân sự Ngài sẽ được phân biệt với muôn dân trên mặt đất.
17Olelo mai la o Iehova, ia Mose, E hana no hoi au i keia mea au i olelo mai ai; no ka mea, ua loaa ia oe ka lokomaikaiia i ko'u maka, a ua ike aka au ia oe ma ka inoa.
17Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Ta sẽ làm điều ngươi cầu xin ta, vì ngươi được ơn trước mặt ta, và ta biết ngươi bởi danh ngươi vậy.
18A i aku la keia, Ke nonoi aku nei au ia oe, e hoike mai oe i kou nani ia'u.
18Môi-se thưa rằng: Tôi xin Ngài cho tôi xem sự vinh hiển của Ngài!
19Olelo mai la ia, E hoohele au i ko'u maikai a pau imua o kou maka, a e hea aku au i ka inoa o Iehova imua o kou maka; a e lokomaikai aka au i ka mea a'u e manao ai e lokomaikai aku, a e aloha aku au i ka mea a'u e manao ai e aloha aka.
19Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta sẽ làm cho các sự nhân từ ta phát ra trước mặt ngươi; ta hô danh Giê-hô-va trước mặt ngươi; làm ơn cho ai ta muốn làm ơn, và thương xót ai ta muốn thương xót.
20A i mai la ia, Aole hiki ia oe ke ike mai i ko'u maka; no ka mea, aohe kanaka e ike mai ia'u, a ola.
20Ngài lại phán rằng: Ngươi sẽ chẳng thấy được mặt ta, vì không ai thấy mặt ta mà còn sống.
21A i mai la o Iehova, Aia kahi e kokoke ana ia'u, a e ku no oe maluna o ka pohaku.
21Đức Giê-hô-va lại phán: Đây có một chỗ gần ta, ngươi hãy đứng trên hòn đá;
22A i ka wa e hele ae ko'u nani, e hookomo no wau ia oe iloko o ka mauae o ka pohaku, a e uhi aku au ia oe i ko'u lima, ia'u e hele ana'e.
22khi sự vinh hiển ta đi ngang qua, ta sẽ để ngươi trong bộng đá, lấy tay ta che ngươi, cho đến chừng nào ta đã đi qua rồi.
23A e lawe aku au i ko'u lima, a e ike mai oe i ko'u kua; aka, aole e ikeia ko'u maka.
23Ta sẽ rút tay lại, và ngươi thấy phía sau ta; nhưng thấy mặt ta chẳng được.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.