Mathai 6
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Kaminawk mah hnuk hanah, kaminawk hmaa ah tahmenhaih hoi paek ih hmuen to sak han ai ah acoe oh: to tiah na sak o nahaeloe, van ah kaom nangcae ampa khae hoi tangqum na hnu o mak ai.
1Hãy giữ, đừng làm sự công bình mình trước mặt người ta, cho họ đều thấy. Bằng không, thì các ngươi chẳng được phần thưởng gì của Cha các ngươi ở trên trời.
2To pongah tahmenhaih hoiah hmuen to na paek o naah, minawk mah pakoeh hanah, angsah thaih kaminawk mah, Sineko hoi lamkrung ah sak o ih baktih toengah, nangmah hma ah mongkah baktiah ueng hmah. Loktang kang thuih o, Nihcae loe angmacae ih tangqum to hnuk o boeh.
2Vậy, khi ngươi bố thí, đừng thổi kèn trước mặt mình, như bọn giả hình làm trong nhà hội và ngoài đường, để được người ta tôn kính. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, bọn đó đã được phần thưởng của mình rồi.
3Toe nangcae mah hmuen na paek o naah, na bantang ban mah sak ih hmuen to banqoi ban mah panoek hmah nasoe:
3Song khi ngươi bố thí, đừng cho tay tả biết tay hữu làm việc gì,
4to tiah ni na paek o ih hmuen to tamquta ah om ueloe, tamquta hoi khenkung nangcae ampa mah kamtuengah tangqum to na paek o tih.
4hầu cho sự bố thí được kín nhiệm; và Cha ngươi, là Đấng thấy trong chỗ kín nhiệm, sẽ thưởng cho ngươi.
5Lawk na thuih o naah, angsah thaih kaminawk baktiah om o hmah: nihcae loe minawk mah hnuk hanah, Sineko hoi lamkrung ah angdoet o moe, lawkthuih han a koeh o. Loktang kang thuih o, Nihcae loe angmacae ih tangqum to hnuk o boeh.
5Khi các ngươi cầu nguyện, đừng làm như bọn giả hình; vì họ ưa đứng cầu nguyện nơi nhà hội và góc đường, để cho thiên hạ đều thấy. Quả thật ta nói cùng các ngươi, bọn đó đã được phần thưởng của mình rồi.
6Toe nangcae mah lawk na thuih o naah, imthung ah akun oh, thok to kha oh loe, tamquta hoi kaom nangcae ampa khaeah lawkthui oh; to tiah ni tamquta hoi khenkung nangcae ampa mah kamtuengah tangqum to na paek o tih.
6Song khi ngươi cầu nguyện, hãy vào phòng riêng, đóng cửa lại, rồi cầu nguyện Cha ngươi, ở nơi kín nhiệm đó; và Cha ngươi, là Đấng thấy trong chỗ kín nhiệm, sẽ thưởng cho ngươi.
7Nangcae mah lawkthuih naah, Sithaw panoek ai kaminawk baktiah, thui kok ih lok to thui o let hmah: nihcae loe kapop ah lawkthuih naah ni nihcae mah thuih ih lok to thaih pae tih, tiah a poek o.
7Vả, khi các ngươi cầu nguyện, đừng dùng những lời lặp vô ích như người ngoại; vì họ tưởng vì cớ lời mình nói nhiều thì được nhậm.
8Nangcae loe nihcae baktiah om o hmah: nangcae mah na hnih o ai naah, nang toeng o ih hmuen to nam Pa mah panoek boeh.
8Vậy, các ngươi đừng như họ; vì Cha các ngươi biết các ngươi cần sự gì trước khi chưa xin Ngài.
9To pongah nangcae mah hae tiah lawkthui oh, tiah a naa: Van ah kaom kaicae Ampa, na hmin saiqathaih om nasoe.
9Vậy các ngươi hãy cầu như vầy: Lạy Cha chúng tôi ở trên trời; Danh Cha được thánh;
10Na prae to angzo lai nasoe, van ih baktiah, na koehhaih, long nuiah sah lai nasoe.
10Nước Cha được đến; Cha ðýõòc nên, õÒ ðâìt nhý trõÌi!
11Ni thokkruek caaknaek khawt na paek ah.
11Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày;
12Kaicae khae laiba tawn kaminawk ka tahmen o baktih toengah, kaicae ih laiba to tahmen ah.
12Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi;
13Pacuekhaih thungah na caeh haih hmah loe, kasae thung hoi na loisak ah: na prae loe, thacakhaih, lensawkhaih hoi dungzan ah om poe nasoe, Amen.
13Xin chớ để chúng tôi bị cám dỗ, mà cứu chúng tôi khỏi điều ác! Vì nước, quyền, vinh hiển đều thuộc về Cha đời đời. A-men.
14Minawk zaehaih na tahmen o nahaeloe, van ah kaom nam pa mah doeh nangcae zaehaih to tahmen toeng tih:
14Vả, nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ các ngươi.
15toe minawk zaehaih na tahmen o ai nahaeloe, nam pa mah doeh nangcae zaehaih to tahmen mak ai. Sithaw hmaa ah buhzaa ah
15Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi.
16Nangcae mah buh na zah o naah, angsah thaih kaminawk baktiah, palungsethaih mikhmai to amtueng o sak hmah: nihcae loe minawk mah buhzah tiah panoek hanah, minawk hma ah mikhmai sae to amtueng o sak. Loktang kang thuih o, nihcae loe angmacae ih tangqum to hnuk o boeh.
16Khi các ngươi kiêng ăn, chớ làm bộ buồn rầu như bọn giả hình; vì họ nhăn mặt, cho mọi người biết họ kiêng ăn. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, bọn đó đã được phần thưởng của mình rồi.
17Toe nangcae mah buh na zah o naah, ungsi to angnok oh loe, mikhmai to pathlak oh;
17Song khi ngươi kiêng ăn, hãy xức dầu trên đầu, và rửa mặt,
18nangcae loe kaminawk hma ah buh na zaa o ai, tamquta ah kaom nangcae ampa hmaa ah ni buh na zah o: to tiah ni tamquta hoi khenkung, nangcae ampa mah kamtuengah tangqum to na paek o tih.
18hầu cho người ta không xem thấy ngươi đang kiêng ăn, nhưng chỉ Cha ngươi là Đấng ở nơi kín nhiệm xem thấy mà thôi; và Cha ngươi thấy trong chỗ kín nhiệm sẽ thưởng cho ngươi.
19Karaa hoi aek mah caak thaih moe, kamqunawk mah doeh pakhoih moe, paquk thaih ih, hae long nuiah hmuen to patung o hmah:
19Các ngươi chớ chứa của cải ở dưới đất, là nơi có sâu mối, ten rét làm hư, và kẻ trộm đào ngạch khoét vách mà lấy;
20karaa hoi aek mah caa thai ai, kamqunawk mah doeh pakhoih moe, paquk thai ai ih, van prae ah hmuen to patung oh:
20nhưng phải chứa của cải ở trên trời, là nơi chẳng có sâu mối, ten rét làm hư, cũng chẳng có kẻ trộm đào ngạch khoét vách mà lấy.
21hmuenmae ohhaih ahmuen ah ni, na palung doeh om toeng tih.
21Vì chưng của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó.
22Takpum ih hmaithaw loe mik hae ni: to pongah na mik to hoih nahaeloe, na takpum boih aang tih.
22Con mắt là đèn của thân thể. Nếu mắt ngươi sáng sủa thì cả thân thể ngươi sẽ được sáng láng;
23Toe na mik to hoih ai nahaeloe, na takpum to ving boih tih. To pongah nangcae thung ih aanghaih to ving nahaeloe, to vinghaih loe kawkruk maw len!
23nhưng nếu mắt ngươi xấu, thì cả thân thể sẽ tối tăm. Vậy, nếu sự sáng láng trong ngươi chỉ là tối tăm, thì sự tối tăm nầy sẽ lớn biết là dường bao!
24Mi mah doeh angraeng hnetto ih tok to sah hmaek thai ai: maeto hnuma ueloe, kalah maeto to palung tih; to tih ai boeh loe maeto patawn ueloe, kalah maeto loe prawt tih. Sithaw ih tok hoiah phoisa ih tok na sah hmaek thai mak ai.
24Chẳng ai được làm tôi hai chủ; vì sẽ ghét người nầy mà yêu người kia, hoặc trọng người nầy mà khinh người kia. Các ngươi không có thể làm tôi Đức Chúa Trời lại làm tôi Ma-môn nữa.
25To pongah kang thuih o, Timaw ka caak moe, timaw ka naek han tiah, hing hanah mawn o hmah; timaw kang khuk han tiah, na takpum han mawn o hmah. Hinghaih loe caaknaek pongah lokpui kue moe, takpum doeh khukbuen pongah lokpui kue na ai maw?
25Vậy nên ta phán cùng các ngươi rằng: đừng vì sự sống mình mà lo đồ ăn uống; cũng đừng vì thân thể mình mà lo đồ mặc. Sự sống há chẳng quí trọng hơn đồ ăn sao, thân thể há chẳng quí trọng hơn quần áo sao?
26Van ih tavaanawk ho khen oh: nihcae loe cang tuh o ai, cang doeh aat o ai, tapup thungah doeh patung o ai; toe van ah kaom nangcae ampa mah nihcae to pacah: nangcae loe nihcae pongah na hoih o kue na ai maw?
26Hãy xem loài chim trời: chẳng có gieo, gặt cũng chẳng có thâu trữ vào kho tàng, mà Cha các ngươi trên trời nuôi nó. Các ngươi há chẳng phải là quí trọng hơn loài chim sao?
27Mawnhaih rang hoiah nangcae thung ih mi mah maw a sanghaih to dongto thap thaih?
27Vả lại, có ai trong vòng các ngươi lo lắng mà làm cho đời mình được dài thêm một khắc không?
28Tipongah angkhuk hanah na mawnh o loe? Lawk ih lili pawknawk loe toksah o ai, pathlah doeh kae o ai; toe kawbangah maw qoeng o tahang, tito khen oh:
28Còn về phần quần áo, các ngươi lại lo lắng mà làm chi? Hãy ngắm xem những hoa huệ ngoài đồng mọc lên thể nào: chẳng làm khó nhọc, cũng không kéo chỉ;
29toe kang thuih o, Solomon mah mataeng doeh, hae ih apawknawk baktiah a lensawkhaih boih hoiah amthoep ai.
29nhưng ta phán cùng các ngươi, dẫu vua Sa-lô-môn sang trọng đến đâu, cũng không được mặc áo tốt như một hoa nào trong giống đó.
30To baktih toengah, vaihniah hing moe, khawnbangah hmai thungah vah han koi lawk ih phroh mataeng doeh, Sithaw mah khenzawn nahaeloe, Aw tanghaih tamsi kaminawk, anih mah loe nangcae to kamtlai ah na khenzawn o mak ai maw?
30Hỡi kẻ ít đức tin, loài cỏ ngoài đồng, là giống nay còn sống, mai bỏ vào lò, mà Đức Chúa Trời còn cho nó mặc đẹp thể ấy thay, huống chi là các ngươi!
31To pongah timaw ka caak o moe, timaw ka naek o han? To tih ai boeh loe, timaw kang khuk o han, tito mawn o hmah.
31Aáy vậy, các ngươi chớ lo lắng mà nói rằng: Chúng ta sẽ ăn gì? uống gì? mặc gì?
32(Gentel kaminawk mah ni hae baktih hmuennawk hae pakrong o;) hae baktih hmuennawk nang toeng o, tito van ah kaom nangcae ampa mah panoek.
32Vì mọi điều đó, các dân ngoại vẫn thường tìm, và Cha các ngươi ở trên trời vốn biết các ngươi cần dùng những điều đó rồi.
33Sithaw prae hoi a toenghaih to pakrong o hmaloe ah; to pacoengah hae hmuennawk boih hae na paek o tih.
33Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa.
34To pongah khawnbang hanah mawn o hmah: khawnbang mah angmah ih hmuennawk hanah kho poek tih. Vaihni raihaih loe vaihni hanah khawt boeh.
34Vậy, chớ lo lắng chi về ngày mai; vì ngày mai sẽ lo về việc ngày mai. Sự khó nhọc ngày nào đủ cho ngày ấy.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.