Mathai
Chapter 26
Asang Khongca Bible (Eas…

Read in

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)
vs Vietnamese Bible (…

Compare with

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)Stop comparing
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Jesu mah hae loknawk thuih pacoengah, a hnukbang kaminawk khaeah,
1Vả, Đức Chúa Jêsus đã phán những lời ấy xong rồi, thì phán cùng môn đồ rằng:
2ni hnetto pacoeng ah misong loihhaih poih om tih, tito na panoek o, to naah kami Capa thinglam pong takhing hanah paek o tih.
2Các ngươi biết rằng còn hai ngày nữa thì đến lễ Vượt qua, và Con người sẽ bị nộp để chịu đóng đinh trên cây thập tự.
3To naah kalen koek qaimanawk, ca tarik kaminawk, kacoehtanawk, Kaiapha, tiah kawk ih kalen koek qaima im ah amkhueng o,
3Bấy giờ các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân nhóm lại trong tòa thầy cả thượng phẩm tên là Cai-phe;
4Jesu to zoek moe, naeh o pacoengah, hum hanah a thuih o.
4và bàn với nhau dùng mưu chước gì đặng bắt Đức Chúa Jêsus mà giết.
5Toe poihsakhaih niah sah hmah si, to tih ai nahaeloe rangpui palungpuihaih om moeng tih, tiah a thuih o.
5Song họ nói rằng: Không nên làm trong ngày lễ, e trong dân chúng sanh ra điều xào xạc chăng.
6Jesu loe Bethany vang ah kaom, ngansae maan Simon im ah oh naah,
6Khi Đức Chúa Jêsus ở làng Bê-tha-ni, tại nhà Si-môn là người phung,
7atho kana parai hmuihoih tabu kasin nongpata maeto anih khaeah angzoh moe, anih buhcaak han anghnut naah lu nuiah a bawh pae.
7có một người đàn bà cầm cái chai bằng ngọc trắng đựng dầu thơm quí giá lắm, đến gần mà đổ trên đầu Ngài đang khi ngồi ăn.
8A hnukbang kaminawk mah hnuk o naah, palungphui o moe, tikhoe avang ai ah hae tiah a kraih vai?
8Môn đồ thấy vậy, giận mà trách rằng: Sao phí của như vậy?
9Atho kana ah hmuihoih tui to zawh moe, amtang kaminawk hanah phoisa to a paek han oh, tiah a thuih o.
9Dầu nầy có thể bán được nhiều tiền và lấy mà thí cho kẻ nghèo nàn.
10Jesu mah to tiah kaom hmuen to panoek naah, Tih hanah nongpata to na tavet o khing loe? Anih loe ka nuiah kahoih hmuen ni a sak.
10Đức Chúa Jêsus biết điều đó, bèn phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi làm khó cho người đàn bà đó? Người đã làm việc tốt cho ta;
11Nangcae loe amtang kamminawk hoi nawnto na oh o toepsoep: toe kai loe nangcae hoi ka om poe mak ai.
11vì các ngươi thường có kẻ nghèo ở cùng mình, song sẽ không có ta ở cùng luôn luôn.
12Nongpata mah ka nuiah bawh ih hmuihoih tui loe Kai aphum hanah sak ih hmuen ah ni oh.
12Người đổ dầu thơm trên mình ta là để sửa soạn chôn xác ta đó.
13Loktang kang thuih o, Long pum ah hae kahoih tamthanglok thuih kruek, hae nongpata mah ka nuiah sak ih hmuen doeh anih panoek poehaih hanah thui o tih, tiah a naa.
13Quả thật, ta nói cùng các ngươi, khắp cả thế gian, hễ nơi nào Tin Lành nầy được giảng ra, thì cũng thuật lại việc người ấy đã làm để nhớ đến người.
14To naah a hnukbang hatlai hnetto thungah Judah Isakariot, tiah kawk ih kami maeto loe, kalen koek qaima khaeah caeh moe,
14Bấy giờ có một người trong mười hai sứ đồ, tên là Giu-đa ỗch-ca-ri-ốt, đến tìm các thầy tế lễ cả,
15nihcae khaeah, Anih to kang paek nahaeloe timaw nang paek o han? tiah a naa. To naah nihcae mah anih khaeah phoisa quithumto paek hanah palungdue o.
15mà nói rằng: Các thầy bằng lòng trả cho tôi bao nhiêu đặng tôi sẽ nộp người cho? Họ bèn trả cho nó ba chục bạc.
16To nathuem hoi kamtong anih mah Jesu naeh thai han ih atue kahoih to pakrong boeh.
16Từ lúc đó, nó tìm dịp tiện để nộp Đức Chúa Jêsus.
17Taeh thuh ai misong loihhaih poih nito naah loe, a hnukbang kaminawk Jesu khaeah angzoh o moe, nang hanah misong loihhaih poih hae naah maw saksak han na koeh? tiah a naa o.
17Trong ngày thứ nhất ăn bánh không men, môn đồ đến gần Đức Chúa Jêsus mà thưa rằng: Thầy muốn chúng tôi dọn cho thầy ăn lễ Vượt qua tại đâu?
18Anih mah, Vangpui thung ih kami maeto khaeah caeh oh loe, anih khaeah, Patukkung mah Kai ih atue loe zoi boeh; ka hnukbang kaminawk hoi nang im ah Misong loihhaih poih ka sak han, tiah a thuih, tiah thui pae oh, tiah a naa.
18Ngài đáp rằng: Hãy vào thành, đến nhà một người kia, mà nói rằng: Thầy nói: Giờ ta gần đến; ta và môn đồ ta sẽ giữ lễ Vượt qua trong nhà ngươi.
19Jesu mah thuih ih lok baktih toengah a hnukbang kaminawk mah, Misong loihhaih poih to sak o.
19Môn đồ làm y như lời Đức Chúa Jêsus đã dạy mà dọn lễ Vượt qua.
20Duembang phak naah, anih loe buhcaak hanah kami hatlai hnettonawk hoi nawnto anghnut.
20Đến tối, Ngài ngồi ăn với mười hai sứ đồ.
21Nihcae buhcaak o naah anih mah, Loktang kang thuih o, nangcae thung ih kami maeto mah kai angphat taak tih, tiah a naa.
21Khi đang ăn, Ngài phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi rằng có một người trong các ngươi sẽ phản ta.
22To naah nihcae loe palungset o moe, kami boih mah anih khaeah, Angraeng, kai maw? tiah a naa o.
22Các môn đồ lấy làm buồn bực lắm, và lần lượt hỏi Ngài rằng: Lạy Chúa, có phải tôi không? Ngài đáp rằng:
23Anih mah, Kai hoi nawnto sabae tapawh kami mah, kai angphat taak tih.
23Kẻ nào để tay vào mâm với ta, ấy là kẻ sẽ phản ta.
24Kami Capa loe angmah kawng tarik ih baktih toengah caeh tih: toe kami Capa angphat taak kami loe khosak bing! To kami loe tapen ai ah om nahaeloe hoi kue tih, tiah pathim pae.
24Con người đi, y theo lời đã chép về Ngài; song khốn nạn thay cho kẻ phản Con người! Thà nó chẳng sanh ra thì hơn!
25Anih angphat taak kami, Judah mah, Rabbi, kai maw? tiah a naa. To naah anih mah, Na thuih ih baktih toengah nang ni, tiah a naa.
25Giu-đa là kẻ phản Ngài cất tiếng hỏi rằng: Thưa thầy, có phải tôi chăng? Ngài phán rằng: Thật như ngươi đã nói.
26Nihcae buhcaak o nathuem ah, Jesu mah takaw to lak moe, tahamhoihhaih paek pacoengah, a aeh, a hnukbang kaminawk khaeah a paek, la oh loe, caa oh: hae loe ka taksa ah oh, tiah a naa.
26Khi đang ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bẻ ra đưa cho môn đồ mà rằng: Hãy lấy ăn đi, nầy là thân thể ta.
27To pacoengah boengloeng to a lak moe, kawnhaih lawkthuih pacoengah, nihcae khaeah a paek, nae o boih ah;
27Ngài lại lấy chén, tạ ơn rồi, đưa cho môn đồ mà rằng: Hết thảy hãy uống đi;
28hae loe pop parai kaminawk ih zae tahmen hanah kalong, lokkamhaih kangtha, ka thii ah oh.
28vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội.
29Kang thuih o, Vaihi hoi kamtong Pa ih prae ah nangcae hoi nawnto kangtha naekhaih ni pha ai karoek to, hae misurtui hae ka nae mak ai boeh, tiah a naa.
29Ta phán cùng các ngươi, từ rày về sau, ta không uống trái nho nầy nữa, cho đến ngày mà ta sẽ uống trái nho mới cùng các ngươi ở trong nước của Cha ta.
30Laa maeto a sak o pacoengah, Olive mae ah a caeh o.
30Khi đã hát thơ thánh rồi, Đức Chúa Jêsus và môn đồ đi ra mà lên núi Ô-li-ve.
31Jesu mah nihcae khaeah, Tuutoep kami to ka boh han, tuunawk loe ahmuen kalah ah ampraek o phang tih, tiah tarik baktih toengah, kai pongah vaiduem poekhaih nam ro o boih tih.
31Ngài bèn phán rằng: Đêm nay các ngươi sẽ đều vấp phạm vì cớ ta, như có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì chiên trong bầy sẽ bị tan lạc.
32Toe kang thawk let pacoengah, nangcae hmaa ah Kalili ah ka caeh han, tiah a naa.
32Song sau khi ta sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi.
33Piter mah anih khaeah, Nang pongah minawk poek amro o boih cadoeh, kai loe natuek naah doeh poek amro mak ai, tiah a naa.
33Phi-e-rơ cất tiếng thưa rằng: Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, song tôi chắc không bao giờ vấp phạm vậy.
34Jesu mah anih khaeah, Loktang kang thuih, vaiduem aakhong ai naah, vai thumto kai nang phat taak tih, tiah a naa.
34Đức Chúa Jêsus phán rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, chính đêm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần.
35Piter mah anih khaeah, Nang hoi nawnto duek han om cadoeh, nang to kang phat taak mak ai, tiah a naa. A hnukbang kaminawk mah doeh to tiah thuih o boih.
35Phi-e-rơ thưa rằng: Dầu tôi phải chết với thầy đi nữa, tôi chẳng chối thầy đâu. Hết thảy môn đồ đều nói y như vậy.
36To pacoengah Jesu loe Gethsemane, tiah kawk ih ahmuen ah a hnukbang kaminawk hoi caeh o, a hnukbang kaminawk khaeah, haeah anghnu oh, ho ah lawkthuih han ka caeh han, tiah a naa.
36Rồi Đức Chúa Jêsus cùng môn đồ đi đến một chỗ kêu là Ghết-sê-ma-nê. Ngài phán rằng: Hãy ngồi đây đợi ta đi cầu nguyện đằng kia.
37Piter hoi Zebedi capa hnik to a caeh haih, anih loe palungset moe, paroeai dawnraihaih hoiah oh.
37Đoạn, Ngài bèn đem Phi-e-rơ và hai người con của Xê-bê-đê đi với mình, tức thì Ngài buồn bực và sầu não lắm.
38Anih mah nihcae khaeah, Ka hinghaih pakhra loe duek han khoek to palungset parai; haeah om oh loe nawnto na hak o haih ah, tiah a naa.
38Ngài bèn phán: Linh hồn ta buồn bực cho đến chết; các ngươi hãy ở đây và tỉnh thức với ta.
39Anih loe ahmuen kangthla kue ah caeh moe, mikhmai long ah akuep, Aw Pa, angcoeng thai nahaeloe, hae boengloeng hae kai khae hoi takhoe ving ah: toe ka koehhaih baktih na ai ah, na koehhaih baktiah om nasoe, tiah lawk a thuih.
39Rồi Ngài bước tới một ít, sấp mặt xuống đất mà cầu nguyện rằng: Cha ơi! nếu có thể được, xin cho chén nầy lìa khỏi Con! Song không theo ý muốn Con, mà theo ý muốn Cha.
40A hnukbang kaminawk khaeah a caeh naah, ka-iip nihcae to a hnuk, Piter khaeah, atue maeto thung mataeng doeh nang hak o haih thai ai maw?
40Kế đó, Ngài trở lại với môn đồ, thấy đang ngủ, thì Ngài phán cùng Phi-e-rơ rằng: Thế thì các ngươi không tỉnh thức với ta trong một giờ được!
41Pacuekhaih thungah na kun o han ai ah, Hak oh loe, lawkthui oh: pakhra mah loe koeh, toe taksa loe thazok, tiah a naa.
41Hãy thức canh và cầu nguyện, kẻo các ngươi sa vào chước cám dỗ; tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối.
42Anih loe caeh let moe, Aw Pa, hae boengloeng hae kai khae hoiah ni takhoe ving thai ai moe, ka naek hanah om khruek nahaeloe, na koehhaih baktiah om nasoe, tiah lawk a thuih.
42Ngài lại đi lần thứ hai, mà cầu nguyện rằng: Cha ơi! nếu chén nầy không thể lìa khỏi Con được mà Con phải uống thì xin ý Cha được nên.
43Anih angzoh let naah, iih kangmue khaang o ai pongah, ka-iip nihcae to a hnuk let bae.
43Ngài trở lại nữa, thì thấy môn đồ còn ngủ; vì mắt họ đã đừ quá rồi.
44To pongah nihcae to a caeh taak moe, vai thumto haih, to tiah lawk a thuih let bae.
44Đoạn, Ngài bỏ mà lại đi cầu nguyện lần thứ ba, và lặp xin như lời trước.
45To pacoengah a hnukbang kaminawk khaeah a caeh, nihcae khaeah, Vaihi khoek to nang song o moe, na iih o vop maw? Khenah, Kami Capa to angphat taak moe, kazae kaminawk ban ah paekhaih atue loe zoi boeh, tiah a naa.
45Rồi Ngài đi đến với môn đồ, mà phán rằng: Bây giờ các ngươi ngủ và nghỉ ngơi ư! Nầy, giờ đã gần tới, Con người sẽ bị nộp trong tay kẻ có tội.
46Angthawk oh, caeh o si boeh: khenah, kai angphat taak kami loe angzoh boeh, tiah a naa.
46Hãy chờ dậy, đi hè, kìa kẻ phản ta đến kia.
47Anih lokthuih li naah, khenah, hatlai hnetto thung ih maeto, Judah to angzoh, kalen koek qaima hoi rangpui kacoehtanawk mah patoeh ih, pop parai kaminawk loe haikaek hoi thingboengnawk to sin o moe, angzoh o.
47Khi Ngài còn đang phán, xảy thấy Giu-đa là một người trong mười hai sứ đồ đến với một bọn đông người cầm gươm và gậy, mà các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân đã sai đến.
48Anih angphat taak kami mah nihcae hanah angmathaih to paek, Ka mok ih kami loe, Anih to boeh ni; anih to naeh oh, tiah a naa.
48Đứa phản Ngài đã trao cho bọn đó dấu nầy: Người nào mà tôi sẽ hôn, ấy là người đó, hãy bắt lấy.
49Judah loe Jesu khaeah caeh phrat moe, Patukkung, tiah lok tapring pacoengah, Anih to a mok.
49Tức thì Giu-đa đến gần Đức Chúa Jêsus mà rằng: Chào thầy! Rồi hôn Ngài.
50Jesu mah anih khaeah, Ampui, tih sak han ih maw nang zoh? tiah a naa. To naah kaminawk angzoh o moe, Anih to naeh o pacoengah, a caeh o haih.
50Nhưng Đức Chúa Jêsus phán cùng nó rằng: Bạn ơi! vậy thì vì việc nầy mà ngươi đến đây sao? Rồi chúng nó đến gần tra tay bắt Đức Chúa Jêsus.
51To naah khenah, Jesu hoi nawnto kaom kaminawk thung ih maeto loe a ban to phok moe, a sumsen to azuh pacoengah, kalen koek qaima tamna ih naa to takroek pae pat.
51Và nầy, có một người trong những người ở với Đức Chúa Jêsus giơ tay rút gươm ra, đánh đầy tớ của thầy cả thượng phẩm, chém đứt một cái tai của người.
52Jesu mah anih khaeah, angmah ih ahmuen ah na sumsen to suem ah: mi kawbaktih doeh sumsen sin kami loe suemsen hoiah dueh tih.
52Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hãy nạp gươm vào vỏ; vì hễ ai cầm gươm thì sẽ bị chết về gươm.
53Kai paek hanah misatuh abu hatlai hnetto pongah kapop van kaminawk to Pa khaeah vaihi ka hni thai mak ai, tiah na poek o maw?
53Ngươi tưởng ta không có thể xin Cha ta lập tức cho ta hơn mười hai đạo thiên sứ sao?
54Toe to tiah om nahaeloe, cabu thungah hae tiah om tih, tiah thuih ih lok to kawbangah maw akoep thai tih? tiah a naa.
54Nếu vậy, thế nào cho ứng nghiệm lời Kinh Thánh đã chép rằng việc nầy tất phải xảy đến?
55To nathuem ah Jesu mah pop parai kaminawk khaeah, Kai hae kamqu baktiah naeh han ih maw, sumsen hoi thingboengnawk hoiah nang zoh o? Tikhoe ni thokkruek tempul thungah nangcae hoi nawnto kang hnut moe, kaminawk ka patuk naah nang naeh o ai loe?
55Lúc bấy giờ, Đức Chúa Jêsus phán cùng chúng rằng: Các ngươi đem gươm và gậy đến mà bắt ta, khác nào như ta là kẻ cướp. Ta thường ngày ngồi trong đền thờ và giảng dạy tại đó, mà các ngươi không bắt ta.
56Toe tahmaanawk mah tarik ih cabu akoep han ih ni hae hmuen hae oh, tiah a naa. To pacoengah a hnukbang kaminawk mah anih to angphat o taak moe, cawnh o taak boih.
56Nhưng mọi điều ấy phải xảy đến, hầu cho những lời các đấng tiên tri đã chép được ứng nghiệm. Khi ấy, hết thảy môn đồ bỏ Ngài mà trốn đi.
57Jesu naeh kaminawk mah anih to ca trik kaminawk hoi kacoehtanawk amkhuenghaih, kalen koek qaima, Kaiapha im ah caeh o haih.
57Những kẻ đã bắt Đức Chúa Jêsus đem Ngài đến nhà thầy cả thượng phẩm Cai-phe, tại đó các thầy thông giáo và các trưởng lão đã nhóm lại.
58Toe Piter loe qaima im khoek to ahmuen kangtla hoiah anih hnukah bang, kawbangah maw a sak o, tiah panoek hanah, a thungah akun moe, imtoep tamnanawk hoi nawnto anghnut.
58Phi-e-rơ theo Ngài xa xa cho đến sân của thầy cả thượng phẩm, vào ngồi với các kẻ canh giữ đặng coi việc ấy ra làm sao.
59Qaimanawk, kacoehtanawk hoi lokcaekungnawk boih mah Jesu hum hanah, sak pazaehaih to pakrong o;
59Bấy giờ các thầy tế lễ cả và cả tòa công luận kiếm chứng dối về Ngài, cho được giết Ngài.
60toe tidoeh hnu o ai: ue, zae netkung paroeai angzoh o, toe nihcae mah zaehaih tidoeh hnu o ai. Hnukkhuem koek ah loe amsawn zaehaih hnukung hnetto angzoh moe,
60Dầu có nhiều người làm chứng dối có mặt tại đó, song tìm không được chứng nào cả. Sau hết, có hai người đến,
61hae kami mah, Sithaw ih tempul hae ka phraek moe, ni thumto thungah ka sak thaih, tiah thuih, tiah a thuih hoi.
61nói như vầy: Người nầy đã nói Ta có thể phá đền thờ của Đức Chúa Trời, rồi dựng lại trong ba ngày.
62To naah kalen koek qaima to angthawk moe, anih khaeah, lok nang pathim mak ai maw? Hae hnukung hnik mah zae nethaih loe kawbangah maw oh? tiah a naa.
62Thầy cả thượng phẩm bèn đứng dậy mà nói với Ngài rằng: Những người nầy làm chứng mà kiện ngươi, ngươi không thưa lại gì sao?
63Toe Jesu loe angam duem. Qaima mah anih khaeah, Kahing Sithaw ih ahmin palawkhaih hoiah lok kang dueng, nang loe Sithaw Capa, Kri maw? Na thui ah, tiah a naa.
63Nhưng Đức Chúa Jêsus cứ làm thinh. Thầy cả thượng phẩm lại nói với Ngài rằng: Ta khiến ngươi chỉ Đức Chúa Trời hằng sống mà thề, hãy nói cho chúng ta, ngươi có phải là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời chăng?
64Jesu mah anih khaeah, Na thuih ih baktih toengah ka oh: toe nang khaeah lok ka thuih, hmabang ah loe Thacak bantang bangah kanghnu, tamai nui hoiah angzo Kami Capa to na hnu tih, tiah a naa.
64Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời; vả lại, ta nói cùng các ngươi, về sau các ngươi sẽ thấy Con người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự trên mây từ trời mà xuống.
65To naah kalen koek qaima mah angmah ih kahni to asih moe, Anih mah Sithaw to kasae thuih boeh; aicae mah kalah hnukungnawk timaw angaihaih oh vop? Khenah, a thuih ih Sithaw padaenghaih lok to vaihi na thaih o boeh.
65Thầy cả thượng phẩm bèn xé áo mình mà nói rằng: Nó đã nói phạm thượng; chúng ta còn cần gì người làm chứng nữa sao? Các ngươi vừa nghe lời phạm thượng đó, thì nghĩ làm sao?
66Kawbangah maw na poek o? tiah a naa. Nihcae mah, Anih loe duek han krah zaehaih a tawnh, tiah pathim pae o.
66Chúng trả lời rằng: Nó đáng chết!
67Nihcae mah a mikhmai ah tamtui hoi pathoih o moe, anih to thong o; thoemto kaminawk mah anih to tabaeng o,
67Họ bèn nhổ trên mặt Ngài, đấm Ngài, lại có kẻ vả Ngài,
68nang Kri, mi mah maw ang boh? Na thui ah, tiah a naa o.
68mà nói rằng: Hỡi Đấng Christ, hãy nói tiên tri đi; cho chúng ta biết ai đánh ngươi.
69Piter loe im tasa bangah anghnut: to naah nongpata maeto anih khaeah angzoh moe, nang doeh Kalili prae ih Jesu hoi nawnto na oh toeng bae, tiah a naa.
69Bấy giờ Phi-e-rơ vẫn ngồi ngoài sân. Có một người đầy tớ gái đến gần, mà nói cùng người rằng: Ngươi cũng là kẻ ở với Jêsus, người Ga-li-lê.
70Toe Piter mah nihcae boih hma ah angphat, timaw na thuih ka panoek ai, tiah a naa.
70Song Phi-e-rơ chối trước mặt chúng mà rằng: Ta không hiểu ngươi nói chi.
71Im hmabang ih khongkha ah a caeh naah, kalah nongpata maeto mah anih to hnuk, nongpata mah to ah kaom kaminawk khaeah, Hae kami doeh Nazareth Jesu hoi nawnto oh, tiah a thuih.
71Khi đi ra ngoài cửa, lại có một đầy tớ gái khác thấy người, bèn nói cùng kẻ ở đó rằng: Người nầy cũng ở với Jêsus, người Na-xa-rét.
72To naah anih mah, To kami to ka panoek ai, tiah lokmaihaih hoiah angphat taak let.
72Song Phi-e-rơ lại chối và thề rằng: Ta chẳng hề biết người ấy.
73Akra ai ah to ah angdoe kaminawk anih khaeah angzoh o moe, Piter khaeah, nang doeh nihcae thung ih kami maeto ah ni na oh; na paeh ih lok pongah amnoek boeh, tiah a naa o.
73Một chặp nữa, những kẻ ở gần đó đến gần nói với Phi-e-rơ rằng: Chắc thật, ngươi cũng thuộc về đảng ấy, vì tiếng nói của ngươi khai ngươi ra.
74To naah anih mah, To kami to ka panoek ai, tiah tangoenghaih hoiah lokkamhaih to a sak. To pacoengah loe aa to khong roep.
74Người bèn rủa mà thề rằng: Ta không biết người đó đâu! Tức thì gà gáy.
75Jesu mah, aakhong ai naah, vai thumto kai nang phat taak tih, tiah thuih ih lok to Piter mah panoek. To pongah tasa bangah a caeh moe, palungset loiah a qah.
75Phi-e-rơ nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã phán rằng: Trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần. Đoạn, người đi ra và khóc lóc cách đắng cay.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.