Mathai 23
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To pacoengah Jesu mah angpop kaminawk hoi a hnukbang kaminawk khaeah hae tiah lokthuih pae,
1Bấy giờ Đức Chúa Jêsus phán cùng dân chúng và môn đồ Ngài rằng:
2ca tarik kami hoi Farasinawk loe Mosi ih tangkhang nuiah anghnut o:
2Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đều ngồi trên ngôi của Môi-se.
3to pongah nihcae mah thuih ih lok to pazui o boih ah loe, sah pae oh; toe nihcae mah sak ih hmuen baktiah sah o hmah: nihcae loe a thuih o ih lok baktiah, sah o ai.
3Vậy, hãy làm và giữ theo mọi điều họ đã bảo các ngươi; nhưng đừng bắt chước việc làm của họ, vì họ nói mà không làm.
4Nihcae loe phawh thai ai ih hmuenzit hoiah taoengh o moe, minawk ih palaeng ah a koeng pae o; toe angmacae loe to hmuennawk to banpazung hoiah tahruet han mataeng doeh koeh o ai.
4Bọn ấy buộc những gánh nặng khó chịu, để trên vai người ta, còn mình thì không muốn động ngón tay vào.
5Nihcae mah sak ih hmuennawk boih loe kaminawk mah hnuk han ih ni sak o: nihcae loe ban ah zaeng ih hmuen to kalen ah sak o moe, kahni atom to kasawkah pakhrak o,
5Họ làm việc gì cũng cố để cho người ta thấy, mang cái thẻ bài da cho rộng, xủ cái tua áo cho dài;
6buh raenghaih poihkung ah anghnuthaih hmuensang to koeh o moe, synagogue ah kasang koek anghnuthaih ahmuen to a koeh o,
6ưa ngồi đầu trong đám tiệc, thích ngôi cao nhất trong nhà hội;
7hmuenmae zawhhaih ahmuen ah minawk mah saiqat paekhaih, Rabbi, Rabbi, tiah kaminawk mah kawkhaih to a koeh o.
7muốn người ta chào mình giữa chợ, và ưng người ta gọi mình bằng thầy!
8Toe nangcae loe Rabbi, tiah kawk o hmah, nangcae loe Patukkung, Kri khue ni na tawnh o; nangcae loe nawkamya ah ni na oh o boih.
8Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy; vì các ngươi chỉ có một Thầy, và các ngươi hết thảy đều là anh em.
9Long nuiah mi kawbaktih doeh pa, tiah kawk o hmah: nangcae loe van ah kaom, nam Pa maeto khue ni na tawnh o.
9Cũng đừng gọi người nào ở thế gian là cha mình; vì các ngươi chỉ có một Cha, là Đấng ở trên trời.
10Patukkung, tiah na kawk o hanah, Patukkung maeto khue ni na tawnh o: anih loe Kri ni.
10Cũng đừng chịu ai gọi mình là chủ; vì các ngươi chỉ có một Chủ, là Đấng Christ.
11Nangcae thung ih kalen koek kami loe nangcae ih tamna ah oh han angaih.
11Song ai lớn hơn hết trong các ngươi, thì sẽ làm đầy tớ các ngươi.
12Mi kawbaktih doeh angmah hoi angmah to amkoeh kami loe, pahnaem tathuk ah om tih; mi kawbaktih doeh poek pahnaem kami loe pakoehhaih om tih.
12Kẻ nào tôn mình lên thì sẽ bị hạ xuống, còn kẻ nào hạ mình xuống thì sẽ được tôn lên.
13Nangcae angsah thaih, Farasi hoi ca tarik kaminawk, khosak na bing o! Kaminawk hanah siangpahrang ah uk ih van prae to na khah pae o khoep: nangmacae doeh na kun o ai, a thungah akun koeh kaminawk doeh na pakaa o.
13Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đóng nước thiên đàng trước mặt người ta; các ngươi không vào đó bao giờ, mà có ai muốn vào, thì lại ngăn trở.
14Nangcae angsah thaih, Farasi hoi ca tarik kaminawk, khosak na bing o! Lamhmainawk ih im to na taek o moe, angsakhaih hoiah kasawkah lawk na thuih o: to pongah kalen aep danpaekhaih to na hnu o tih.
14Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi làm bộ đọc lời cầu nguyện cho dài mà nuốt nhà đàn bà góa; vì cớ đó, các ngươi sẽ bị đoán phạt nặng hơn.
15Nangcae angsah thaih, Farasi hoi ca tarik kaminawk, khosak na bing o! Kami maeto amkhraisak hanah tuipui hoi saoeng to na takui o moe, kami to na hnuk o naah, anih to nangmacae pong alet hnetto kamtlai ah hell ih caa ah nang coeng o sak.
15Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi.
16Nangcae mikmaeng zaehoikungnawk, khosak na bing o! Nangcae mah mi kawbaktih doeh tempul hoi lokkamhaih sah kami loe kawbangah doeh om mak ai; toe tempul thung ih sui hoiah lokkamhaih sah kami loe, a lokkamhaih to caksak poe han oh, tiah na thuih o.
16Khốn cho các ngươi, là kẻ mù dẫn đường, các ngươi nói rằng: Nếu người nào chỉ đền thờ mà thề, thì không can chi; song chỉ vàng của đền thờ mà thề, thì phải mắc lời thề ấy.
17Nangcae mikmaeng hoi amthu kaminawk: sui maw kalen kue, to tih ai boeh loe sui ciimsakkung tempul?
17Hỡi kẻ dại và mù, vàng, và đền thờ làm cho vàng nên thánh, cái nào trọng hơn?
18Mi kawbaktih doeh hmaicam hoi lokkamhaih sah kami loe, kawbangah doeh om mak ai, toe hmaicam nui ih tangqum hoiah lokkamhaih sah kami loe sak pazaehaih a tawnh, tiah na thuih o.
18Lại các ngươi nói rằng: Nếu người nào chỉ bàn thờ mà thề, thì không can chi; song chỉ của lễ trên bàn thờ mà thề, thì phải mắc lời thề ấy.
19Nangcae mikmaeng hoi amthu kaminawk: tangqum maw kalen kue, to tih ai boeh loe tangqum ciimsakkung hmaicam?
19Hỡi kẻ mù kia, của lễ, và bàn thờ làm cho của lễ nên thánh, cái nào trọng hơn?
20To pongah mi kawbaktih doeh hmaicam hoi lokkamhaih sah kami loe hmaicam hoi a nuiah kaom hmuen boih hoi lokkamhaih sak ah ni oh boeh.
20Vậy thì người nào chỉ bàn thờ mà thề, là chỉ bàn thờ và cả của lễ trên bàn thờ mà thề;
21Mi kawbaktih doeh tempul hoi lokkamhaih sah kami loe tempul thungah kaom kami hoiah lokkamhaih sak ah ni oh boeh.
21người nào chỉ đền thờ mà thề, là chỉ đền thờ và Đấng ngự nơi đền thờ mà thề
22Mi kawbaktih doeh van hoi lokkamhaih sah kami loe, Sithaw ih angraeng tangkhang hoi a nuiah anghnu kami hoiah lokkamhaih sak ah ni oh boeh.
22còn ai chỉ trời mà thề, là chỉ ngôi của Đức Chúa Trời và Đấng ngự trên ngôi mà thề vậy.
23Nangcae angsah cop thaih, ca tarik kami hoi Farasinawk, khosak na bing o! Nangcae loe cungpram, hmuihoih aan hoi cungsimnawk to haato thungah maeto na paek o, toe kaalok thungah kaom katoeng lokcaekhaih, kami tahmenhaih hoi tanghaih to tiah doeh na poek o ai: kalah hmuennawk to pahnawt sut ai ah, lokpui parai hmuennawk doeh na sak o han angaih.
23Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi nộp một phần mười bạc hà, hồi hương, và rau cần, mà bỏ điều hệ trọng hơn hết trong luật pháp, là sự công bình, thương xót và trung tín; đó là những điều các ngươi phải làm, mà cũng không nên bỏ sót những điều kia.
24Nangcae mikmaeng zaehoikungnawk, taksae maeto doeh oh han ai ah tui to na pacii o, toe kaengkuu hrang maeto na pa-aeh o lat.
24Hỡi kẻ mù dẫn đường, các ngươi lọc con ruồi nhỏ mà nuốt con lạc đà!
25Nangcae angsah cop, ca tarik kami hoi Farasi kaminawk, khosak na bing o! Boengloeng hoi sabaenawk to anui bang kaciim ah na pasaeh o, toe athung bangah loe kami lomhhaih hoi kamtlai koeh hmoekhaih hoiah koi.
25Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi rửa bề ngoài chén và mâm, nhưng ở trong thì đầy dẫy sự ăn cướp cùng sự quá độ.
26Farasi mikmaengnawk, boengloeng hoi sabae to a thung bangah pasae o hmaloe ah, to tiah ni anui bang doeh ciim thai tih.
26Hỡi người Pha-ri-si mù kia, trước hết phải lau bề trong chén và mâm, hầu cho bề ngoài cũng được sạch sẽ.
27Nangcae angsah cop thaih, ca tarik kami hoi Farasinawk, khosak na bing o! Nangcae loe anui bang hoi khet kahoih ah rong kanglung hoi nok moe, athung bangah loe kadueh kaminawk ih ahuh, kaciim ai hmuennawk hoiah kakoi taprong hoiah ni anghmong.
27Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi giống như mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy.
28To baktih toengah nangcae doeh tasa bang hoiah loe kaminawk hma ah katoeng kami baktiah amtueng, toe a thung bangah loe angsak cophaih, zaehaih hoiah ni na koi o.
28Các ngươi cũng vậy, bề ngoài ra dáng công bình, nhưng ở trong thì chan chứa sự giả hình và tội lỗi.
29Nangcae angsah cop thaih, ca tarik kami hoi Farasinawk, khosak na bing o! Nangcae loe tahmaanawk ih taprong to na sak o moe, katoeng kaminawk ih taprong to na sak pathoep o,
29Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi xây đắp mồ mả của đấng tiên tri, trau giồi mồ mả của người công bình,
30kaicae loe kaimacae ampanawk ih adung ah kho ka sak o langlacadoeh, tahmaanawk athii palong kaminawk khaeah ka thum o mak ai, tiah na thuih o.
30và nói rằng: Nếu chúng ta ở cùng một thời với tổ phụ, thì không hùa theo người mà làm đổ máu các đấng tiên tri vậy.
31Nangcae loe tahmaanawk hum kaminawk ih caa ah na oh o, tiah nangmacae hoi nangmacae to hnukung ah na oh o.
31Aáy đó, các ngươi tự làm chứng cho mình rằng thật là con cháu những người giết các đấng tiên tri.
32Nam panawk khosakhaih tuinuen to koi o sak ngala khae.
32Vậy thì hãy làm cho đầy dẫy cái lường của tổ phụ các ngươi!
33Nangcae pahuinawk, nangcae pahui ih caanawk, kawbangmaw hell thung hoiah na loih o thai tih?
33Hỡi loài rắn, dòng dõi rắn lục kia, thế nào mà tránh khỏi sự đoán phạt nơi địa ngục được?
34To pongah khenah, Tahmaanawk, palungha kaminawk hoi ca tarik kaminawk to nangcae khaeah kang patoeh: thoemto kaminawk to na hum o ueloe, thinglam pongah na takhing o tih; thoemto kaminawk loe sineko ah na bop o ueloe, vangpui maeto pacoeng maeto ah na pacaektlaek o tih:
34Vậy nên, nầy, ta sai những đấng tiên tri, kẻ khôn ngoan, và thầy thông giáo đến cùng các ngươi; trong những người ấy, kẻ thì các ngươi sẽ giết và đóng đinh trên cây thập tự, kẻ thì các ngươi sẽ đánh đập trong nhà hội mình, và các ngươi sẽ đuổi bắt họ từ thành nầy qua thành kia,
35tempul hoi hmaicam salakah na hum o ih, katoeng kami Abel hoi Barakiah capa, Zakariah karoek to long nuiah kalong katoeng kaminawk boih ih athii loe nangcae nuiah om tih.
35hầu cho hết thảy máu vô tội bị tràn ra trên mặt đất, đổ về các ngươi, từ máu A-bên là người công bình cho đến máu Xa-cha-ri là con của Ba-ra-chi, mà các ngươi đã giết ở giữa khoảng đền thờ và bàn thờ.
36Loktang kang thuih o, hae hmuennawk boih loe hae adung ih kaminawk nuiah pha tih.
36Quả thật, ta nói cùng các ngươi, mọi điều đó sẽ xảy đến cho dòng dõi nầy.
37Aw Jerusalem, Jerusalem, tahmaanawk humkung hoi nang khaeah patoeh ih kaminawk thlung hoiah vakung, aa amno mah a caanawk pakhraeh tlim ah tapop baktih toengah, na caanawk nawnto tapop hanah vai nazetto maw koehhaih ka tawnh boeh, toe nang mah na koeh ai!
37Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem, ngươi giết các đấng tiên tri và ném đá những kẻ chịu sai đến cùng ngươi, bao nhiêu lần ta muốn nhóm họp các con ngươi như gà mái túc con mình lại ấp trong cánh, mà các ngươi chẳng khứng!
38Khenah, na im loe angqai krang ah ni oh sut boeh.
38Nầy, nhà các ngươi sẽ bỏ hoang!
39Kang thuih o, Angraeng ih ahmin hoi angzo kami loe tahamhoih, tiah na thui o ai karoek to, vaihi hoi kamgtong kai nang hnuh o mak ai boeh, tiah a naa.
39Vì, ta bảo, các ngươi sẽ không thấy ta nữa, cho đến lúc các ngươi sẽ nói rằng: Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.