Mathai 4
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To pacoengah Jesu loe taqawk mah pacuek hanah, Muithla mah praezaek ah caeh haih.
1Bấy giờ, Đức Thánh Linh đưa Đức Chúa Jêsus đến nơi đồng vắng, đặng chịu ma quỉ cám dỗ.
2Qum quipalito hoi ni quipalito buhzah pacoengah, anih loe zok amthlam.
2Ngài đã kiêng ăn bốn mươi ngày bốn mươi đêm rồi, sau thì đói.
3Pacuekkung loe anih khaeah caeh moe, Sithaw Capa ah na oh nahaeloe, hae ih thlungnawk hae takaw ah angcoengsak ah, tiah a naa.
3Quỉ cám dỗ đến gần Ngài, mà nói rằng: Nếu ngươi phải là Con Đức Chúa Trời, thì hãy khiến đá nầy trở nên bánh đi.
4Toe anih mah, Kami loe takaw khue hoiah hing mak ai, Sithaw pakha thung hoi tacawt lok hoiah ni hing tih, tiah tarik ih oh, tiah a naa.
4Đức Chúa Jêsus đáp: Có lời chép rằng: Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời.
5To pacoengah taqawk mah anih to kaciim vangpui thungah caeh haih moe, tempul ranui ah ohsak.
5Ma quỉ bèn đem Ngài vào nơi thành thánh, đặt Ngài trên nóc đền thờ,
6Anih khaeah, Na khok thlung pong daeng han ai ah, anih mah angmah ih van kaminawk to lokpaek ueloe, nihcae ih ban hoiah nang to na tapom o tih, tiah tarik ih lok oh baktih toengah, Sithaw Capa ah na oh nahaeloe, lungpung tathuk ah, tiah a naa.
6và nói rằng: Nếu ngươi phải là Con Đức Chúa Trời, thì hãy gieo mình xuống đi; vì có lời chép rằng: Chúa sẽ truyền các thiên sứ gìn giữ ngươi, thì Các Đấng ấy sẽ nâng ngươi trong tay, Kẻo chân ngươi vấp nhằm đá chăng.
7Jesu mah anih khaeah, Na Angraeng Sithaw to tanoek hmah, tiah tarik ih oh, tiah a naa.
7Đức Chúa Jêsus phán: Cũng có lời chép rằng: Ngươi đừng thử Chúa là Đức Chúa Trời ngươi.
8To pacoengah taqawk mah anih to maesang nuiah caeh haih moe, long nui ih praenawk hoi lensawkhaihnawk boih to patuek.
8Ma quỉ lại đem Ngài lên trên núi rất cao, chỉ cho Ngài các nước thế gian, cùng sự vinh hiển các nước ấy;
9Anih khaeah, Na cangkrawn moe, kai nang bok nahaeloe, hae hmuennawk boih hae kang paek han, tiah a naa.
9mà nói rằng: Ví bằng ngươi sấp mình trước mặt ta mà thờ lạy, thì ta sẽ cho ngươi hết thảy mọi sự nầy.
10Jesu mah anih khaeah, Setan, hae ahmuen hoi tacawt ah: na Angraeng Sithaw khue to bok ah loe, Anih ih tok khue to sah ah, tiah tarik ih oh, tiah a naa.
10Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng nó rằng: Hỡi quỉ Sa-tan, ngươi hãy lui ra! Vì có lời chép rằng: Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi.
11To pacoengah loe taqawk mah anih to caehtaak, khenah, van kaminawk angzoh o moe, Anih ih tok to sak pae o.
11Ma quỉ bèn bỏ đi; liền có thiên sứ đến gần mà hầu việc Ngài.
12Johan thongim pakhrak o, tito Jesu mah thaih naah, anih loe Kalili prae ah amlaem;
12Vả, khi Đức Chúa Jêsus nghe Giăng bị tù rồi, thì Ngài lánh qua xứ Ga-li-lê.
13Nazareth vangpui to a caehtaak, tuipui taeng ih Zebulun hoi Naphtali prae angzithaih ahmuen ah kaom, Kapernuam vangpui ah a caeh moe, to ah khosak:
13Ngài bỏ thành Na-xa-rét mà đến ở thành Ca-bê-na-um, gần mé biển, giáp địa phận xứ Sa-bu-lôn cùng xứ Nép-ta-li,
14tahmaa Isaiah mah thuih ih lok akoep thai hanah,
14để cho ứng nghiệm lời đấng tiên tri Ê-sai đã nói rằng:
15Zebulun hoi Naphtali ih prae, tuipui caehhaih loklam, Jordan vapui yaeh, Gentel kaminawk ih Kalili;
15Đất Sa-bu-lôn và Nép-ta-li, ỳ về trên con đường đi đến biển, bên kia sông Giô-đanh, Tức là xứ Ga-li-lê thuộc về dân ngoại...,
16vinghaih thungah anghnu kaminawk mah kalen parai aanghaih to hnuk o boeh; to prae thungah kaom, duekhaih tahlip ah anghnu kaminawk nuiah aanghaih to phak boeh, tiah thuih ih lok to akoep han ih ni to tiah oh.
16Dân ấy ngồi chỗ tối tăm, Đã thấy ánh sáng lớn; Và trên những kẻ ngồi trong miền và dưới bóng sự chết, Thì ánh sáng đã mọc lên.
17To nathuem hoi kamtong Jesu mah, Dawnpakhuem oh; van prae loe zoi boeh, tiah tamthanglok thuih amtong.
17Từ lúc đó, Đức Chúa Jêsus khởi giảng dạy rằng: Các ngươi hãy ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần.
18Jesu Kalili tuipui taengah caeh naah, Piter tiah kawk ih Simon hoi amnawk Andru, nawkamya hnik loe, tuipui ah palok haeng hoi; to naah Anih mah hnuk: nihnik loe tanga naeh kami ah oh hoi.
18Khi Ngài đang đi dọc theo mé biển Ga-li-lê, thấy hai anh em kia, là Si-môn, cũng gọi là Phi-e-rơ, với em là Anh-rê, đang thả lưới dưới biển, vì hai anh em vốn là người đánh cá.
19Anih mah nihnik khaeah, Ka hnuk ah bang hoih, kami naehkung ah kang sak hoi han, tiah a naa.
19Ngài phán cùng hai người rằng: Các ngươi hãy theo ta, ta sẽ cho các ngươi nên tay đánh lưới người.
20Nihnik loe palok to vah hoi sut moe, Anih hnukah bang hoi.
20Hai anh em liền bỏ lưới mà theo Ngài.
21Anih to ahmuen hoiah tacawt pacoengah, ampa Zebedi hoi nawnto palong thungah palok pading, kalah nawkamya Zebedi ih capa Jakob hoi amnawk Johan to anih mah hnuk naah nihnik to a kawk.
21Từ đó đi một đỗi xa xa nữa, Ngài thấy hai anh em khác, là Gia-cơ, con của Xê-bê-đê, với em là Giăng, đang cùng cha mình là Xê-bê-đê vá lưới trong thuyền; Ngài bèn gọi hai người.
22Nihnik loe palong hoi ampa to caeh hoi taak moe, anih hnukah bang hoi roep.
22Tức thì hai người đó bỏ thuyền và cha mình mà theo Ngài.
23Jesu loe Kalili prae thung boih ah caeh moe, Sineko ah kaminawk to patuk, siangpahrang mah ukkhaih prae tamthanglok hoih to a thuih pae, ngantui ai kaminawk hoi congca nathaih tawn kaminawk to ngan a tuisak.
23Đức Chúa Jêsus đi khắp xứ Ga-li-lê, dạy dỗ trong các nhà hội, giảng Tin Lành của nước Đức Chúa Trời và chữa lành mọi thứ tật bịnh trong dân.
24To naah Syria prae boih ah Jesu kawng to amthang: congca nathaih tawn kami hoi congca patangkhanghaih tongh kaminawk, ngantui ai kaminawk, kamthunawk, taqawk tawn kaminawk, khok ban angtawt thai ai kaminawk boih, anih khaeah angzoh o haih, anih mah nihcae to ngantuisak.
24Vậy, danh tiếng Ngài đồn ra khắp cả xứ Sy-ri, người ta bèn đem cho Ngài mọi người đau ốm, hay là mắc bịnh nọ tật kia, những kẻ bị quỉ ám, điên cuồng, bại xuội, thì Ngài chữa cho họ được lành cả.
25Kalili, Dekapoli, Jerusalem, Judea prae, Jordan vapui yaeh hoiah angzo paroeai kaminawk loe anih hnukah bang o.
25Vả lại, từ xứ Ga-li-lê, xứ Đê-ca-bô-lơ, thành Giê-ru-sa-lem, xứ Giu-đê, cho đến xứ bên kia sông Giô-đanh, thiên hạ kéo nhau rất đông mà theo Ngài.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.