Mathai
Chapter 26
Baibal Olcim (Matupi Chin)

Read in

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)
vs Vietnamese Bible (…

Compare with

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)Stop comparing
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Mathai 26

Baibal Olcim (Matupi Chin)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Jesuh loh hekah ol he boeih a khah tom vaengah a hnukbang rhoek te,
1Vả, Đức Chúa Jêsus đã phán những lời ấy xong rồi, thì phán cùng môn đồ rằng:
2“ Hnin nit phoeiah yoom om ni tila na ming uh, hlang capa tah te vaengah tai hamla a tloeng coeng,” a ti nah.
2Các ngươi biết rằng còn hai ngày nữa thì đến lễ Vượt qua, và Con người sẽ bị nộp để chịu đóng đinh trên cây thập tự.
3Te vaengah khosoihham rhoek neh pilnam khuikah patong rhoek tah Kaiaphas la a khue khosoihham kah vongup ah tingtun uh.
3Bấy giờ các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân nhóm lại trong tòa thầy cả thượng phẩm tên là Cai-phe;
4Jesuh te tuengkhuepnah neh tuuk phoeiah ngawn ham dawtlet uh thae.
4và bàn với nhau dùng mưu chước gì đặng bắt Đức Chúa Jêsus mà giết.
5Tedae, “Khotue vaengah boel saeh, pilnam khuiah olpungnah la om pawt nim,” a ti uh.
5Song họ nói rằng: Không nên làm trong ngày lễ, e trong dân chúng sanh ra điều xào xạc chăng.
6Jesuh te Bethany kah hmaibae Simon im ah om.
6Khi Đức Chúa Jêsus ở làng Bê-tha-ni, tại nhà Si-môn là người phung,
7Anih te a phu aka kuel, botui lungbok aka pom huta loh a paan tih aka vael Jesuh kah a lu te a suep thil.
7có một người đàn bà cầm cái chai bằng ngọc trắng đựng dầu thơm quí giá lắm, đến gần mà đổ trên đầu Ngài đang khi ngồi ăn.
8A hmuh uh vaengah hnukbang rhoek loh a yakdam uh tih, “He vakrhanah la he.
8Môn đồ thấy vậy, giận mà trách rằng: Sao phí của như vậy?
9He tah a yet la a yoih vetih khodaeng a paek thai dae ta,” a ti uh.
9Dầu nầy có thể bán được nhiều tiền và lấy mà thí cho kẻ nghèo nàn.
10Tedae Jesuh loh a ming vaengah amih te, “ Balae tih huta he thakthaenah neh na toeh uh, kai hamla bibi then ni a saii .
10Đức Chúa Jêsus biết điều đó, bèn phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi làm khó cho người đàn bà đó? Người đã làm việc tốt cho ta;
11khodaeng rhoek tah nangmih taengah om taitu ta, tedae kai he ka om taitu moenih .
11vì các ngươi thường có kẻ nghèo ở cùng mình, song sẽ không có ta ở cùng luôn luôn.
12Huta loh ka pum dongah botui a suep he kai kah rhokkhoem ham ni a saii coeng .
12Người đổ dầu thơm trên mình ta là để sửa soạn chôn xác ta đó.
13Nangmih taengah rhep ka thui, Diklai pum kah olthangthen a hoe nah takuem ah anih loh a saii he khaw a kutmuei la a thui ni,” a ti nah.
13Quả thật, ta nói cùng các ngươi, khắp cả thế gian, hễ nơi nào Tin Lành nầy được giảng ra, thì cũng thuật lại việc người ấy đã làm để nhớ đến người.
14Hlainit khuikah pakhat Judah Iskariot la a khue tah vik cet.
14Bấy giờ có một người trong mười hai sứ đồ, tên là Giu-đa ỗch-ca-ri-ốt, đến tìm các thầy tế lễ cả,
15Khosoihham rhoek taengah, “Na ngaih yet te mah kai m'pae uh anih te nangmih taengah ah kan tloeng bitni,” a ti nah. Te dongah anih ham tangka sawmthum a cun uh.
15mà nói rằng: Các thầy bằng lòng trả cho tôi bao nhiêu đặng tôi sẽ nộp người cho? Họ bèn trả cho nó ba chục bạc.
16Te vaeng lamloh Jesuh te voeih ham a tuethen a dawn.
16Từ lúc đó, nó tìm dịp tiện để nộp Đức Chúa Jêsus.
17Vaidamding kah a cuek khohnin ah hnukbang rhoek loh Jesuh te a paan uh tih, “Melam na ngaih dae, yoom na caak ham ka rhuengphong uh pawn eh? ” a ti na uh .
17Trong ngày thứ nhất ăn bánh không men, môn đồ đến gần Đức Chúa Jêsus mà thưa rằng: Thầy muốn chúng tôi dọn cho thầy ăn lễ Vượt qua tại đâu?
18Te vaengah Jesuh loh, “ Khopuei la cet uh lamtah pakhat taengah , ' Saya loh , ' Kai kah a tue tah om tom coeng, nang taengah ka hnukbang rhoek neh yoom ka saii ni ,’ a ti , ' ti na uh,” a ti nah.
18Ngài đáp rằng: Hãy vào thành, đến nhà một người kia, mà nói rằng: Thầy nói: Giờ ta gần đến; ta và môn đồ ta sẽ giữ lễ Vượt qua trong nhà ngươi.
19Jesuh loh amih a thuinuet bangla hnukbang rhoek loh a saii uh tih Yoom te a rhuengphong uh.
19Môn đồ làm y như lời Đức Chúa Jêsus đã dạy mà dọn lễ Vượt qua.
20Hlaem a pha vaengah hlainit taengah a vael.
20Đến tối, Ngài ngồi ăn với mười hai sứ đồ.
21A caak uh li vaengah, “ Nangmih taengah rhep ka thui, nangmih khuikah pakhat loh kai m'voeih ni,” a ti nah.
21Khi đang ăn, Ngài phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi rằng có một người trong các ngươi sẽ phản ta.
22Te vaengah bahoeng a kothae uh tih amah te, “Boeipa, kai ka om mai khaming,” rhip pahoi a ti uh .
22Các môn đồ lấy làm buồn bực lắm, và lần lượt hỏi Ngài rằng: Lạy Chúa, có phải tôi không? Ngài đáp rằng:
23Tedae amah loh a doo tih, “ Kai taengah baeldung khuila kut aka puei loh kai m'voeih ni .
23Kẻ nào để tay vào mâm với ta, ấy là kẻ sẽ phản ta.
24Hlang Capa tah amah kawng a daek pah bangla cet ngawn ta. Tedae anih kongah Hlang Capa a voeih sak hlang tah anunae. Tekah hlang tah cun pawt koinih anih ham then ngai ni,” a ti nah.
24Con người đi, y theo lời đã chép về Ngài; song khốn nạn thay cho kẻ phản Con người! Thà nó chẳng sanh ra thì hơn!
25Te vaengah anih aka voei Judah loh a doo tih, “Rhabbi, kai ka om mai khaming “ a ti nah hatah anih te, “ Na thui coeng te,” a ti nah .
25Giu-đa là kẻ phản Ngài cất tiếng hỏi rằng: Thưa thầy, có phải tôi chăng? Ngài phán rằng: Thật như ngươi đã nói.
26A caak uh vaengah Jesuh loh vaidam te a loh tih a uem tih a aeh. Te phoeiah hnukbang rhoek te a paek tih, “ Doe uh lamtah ca uh, he tah kamah pum ni,” a ti nah.
26Khi đang ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bẻ ra đưa cho môn đồ mà rằng: Hãy lấy ăn đi, nầy là thân thể ta.
27Te phoeiah boengloeng te a loh tih a uem phoeiah amih te a doe tih, “ Te te boeih o uh .
27Ngài lại lấy chén, tạ ơn rồi, đưa cho môn đồ mà rằng: Hết thảy hãy uống đi;
28He tah kamah kah paipi thii ni. A yet kah tholh khodawkngainah ham ni a long .
28vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội.
29Tedae nangmih taengah kan thui, tahae lamkah loh misur thaih he ka o loeng loeng mahpawh. Te khohnin a pha hlan atah a pa kah ram khui daengah ni nangmih taengah a thai la ka ok eh,” a ti nah.
29Ta phán cùng các ngươi, từ rày về sau, ta không uống trái nho nầy nữa, cho đến ngày mà ta sẽ uống trái nho mới cùng các ngươi ở trong nước của Cha ta.
30Te phoeiah a hlai doeah Olives tlang la cet uh.
30Khi đã hát thơ thánh rồi, Đức Chúa Jêsus và môn đồ đi ra mà lên núi Ô-li-ve.
31Te phoeiah Jesuh loh amih te, “ He khoyin ah tah kai kongah nangmih boeih n'khah uh ni , ' Tudawn te ka tam vetih tuping dongkah tu tah taekyak uh ni ' tila a daek coeng .
31Ngài bèn phán rằng: Đêm nay các ngươi sẽ đều vấp phạm vì cớ ta, như có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì chiên trong bầy sẽ bị tan lạc.
32Tedae kai ka thoh phoeiah Galilee la nangmih hmaiah ka lamhma ni,” a ti nah.
32Song sau khi ta sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi.
33Peter loh amah te a doo tih, “A cungkuem he nang kongah a khah uh akhaw kai tah n'khap mahpawh,” a ti nah.
33Phi-e-rơ cất tiếng thưa rằng: Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, song tôi chắc không bao giờ vấp phạm vậy.
34Jesuh loh Peter taengah, “ Nang taengah rhep kan thui, tu khoyin kah ai a khong hlanah kai he voei thum nan huek uh tak ni,” a ti nah.
34Đức Chúa Jêsus phán rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, chính đêm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần.
35Peter loh Jesuh taengah, “Nang taengah ka duek ham kuek cakhaw nang kan huek uh tak loeng loeng mahpawh,” a ti nah. Hnukbang rhoek long khaw boeih a ti uh van.
35Phi-e-rơ thưa rằng: Dầu tôi phải chết với thầy đi nữa, tôi chẳng chối thầy đâu. Hết thảy môn đồ đều nói y như vậy.
36Te phoeiah Jesuh tah hnukbang rhoek neh Gethsemene la a khue hmuen la pawk uh. Te vaengah hnukbang rhoek te, “ He rhoek ana ngol uh dae ka cet tih ka thangthui phai narhuet ah,” a ti nah.
36Rồi Đức Chúa Jêsus cùng môn đồ đi đến một chỗ kêu là Ghết-sê-ma-nê. Ngài phán rằng: Hãy ngồi đây đợi ta đi cầu nguyện đằng kia.
37Te vaengah Peter neh Zebedee kah ca rhoi te a khuen tih khothae neh khobing te a tong.
37Đoạn, Ngài bèn đem Phi-e-rơ và hai người con của Xê-bê-đê đi với mình, tức thì Ngài buồn bực và sầu não lắm.
38Te vaengah amih te, “Ka hinglu loh dueknah te ngang a yaak coeng, heah ana naeh uh lamtah kai n'hak puei uh,” a ti nah.
38Ngài bèn phán: Linh hồn ta buồn bực cho đến chết; các ngươi hãy ở đây và tỉnh thức với ta.
39Te phoeiah hawt lamhma phai tih a maelhmai neh bakop thuk. Te phoeiah thangthui tih, “ A Pa a coeng thai atah hekah boengloeng he kai taeng lamkah loh khoe mai. Tedae kai ngaih banglam pawt tih namah ngaih bangla om saeh,” a ti.
39Rồi Ngài bước tới một ít, sấp mặt xuống đất mà cầu nguyện rằng: Cha ơi! nếu có thể được, xin cho chén nầy lìa khỏi Con! Song không theo ý muốn Con, mà theo ý muốn Cha.
40Te phoeiah hnukbang rhoek te a paan hatah a ih uh te a hmuh.Te dongah Peter te, “Khonoek pakhat khaw kai taengah hak ham na noeng uh moenih a?” a ti nah.
40Kế đó, Ngài trở lại với môn đồ, thấy đang ngủ, thì Ngài phán cùng Phi-e-rơ rằng: Thế thì các ngươi không tỉnh thức với ta trong một giờ được!
41Cuekhalhnah khuiah na kun uh pawt ham hak lamtah thangthui uh. Mueihla loh a yakvawt ngawn dae pumsa tah tattloel pueng
41Hãy thức canh và cầu nguyện, kẻo các ngươi sa vào chước cám dỗ; tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối.
42Te phoeiah a pabae la cet tih thangthui. Te vaengah, “ A pa he he poenghal ham neh ok pawt ham ni a coeng pawt oeh atah namah kongaih la om saeh,” a ti.
42Ngài lại đi lần thứ hai, mà cầu nguyện rằng: Cha ơi! nếu chén nầy không thể lìa khỏi Con được mà Con phải uống thì xin ý Cha được nên.
43Te phoeiah koep ha pawk hatah amih a ih te a hmuh. Amih aka om rhoek te a mik loh bakba a hap sak.
43Ngài trở lại nữa, thì thấy môn đồ còn ngủ; vì mắt họ đã đừ quá rồi.
44Te dongah amih te sut a hlah tih a pathum na koep a caeh vaengah amah ol bangla koep a thui tih thangthui.
44Đoạn, Ngài bỏ mà lại đi cầu nguyện lần thứ ba, và lặp xin như lời trước.
45Te phoeiah hnukbang rhoek te a paan tih, “ Yulh ip lamtah vawk mong uh, a tue yoei coeng tih hlang capa tah hlangtholh kut ah a voeih coeng he .
45Rồi Ngài đi đến với môn đồ, mà phán rằng: Bây giờ các ngươi ngủ và nghỉ ngơi ư! Nầy, giờ đã gần tới, Con người sẽ bị nộp trong tay kẻ có tội.
46Thoo uh, mawt uh thae sih. Kai aka voei tah ha yoei coeng he,” a ti nah.
46Hãy chờ dậy, đi hè, kìa kẻ phản ta đến kia.
47A cal li ah hlainit khuikah pakhat Judah te pakcak ha pawk. Te vaengah anih te hlangping a yet loh cunghang neh, thingboeng neh, khosoihham rhoek neh, pilnam kah a ham rhoek neh ham puei uh.
47Khi Ngài còn đang phán, xảy thấy Giu-đa là một người trong mười hai sứ đồ đến với một bọn đông người cầm gươm và gậy, mà các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân đã sai đến.
48Amah aka voei loh hlangping te miknoek a paek tih, “Ka mok te tah anih ni, anih te tuu uh,” a ti nah.
48Đứa phản Ngài đã trao cho bọn đó dấu nầy: Người nào mà tôi sẽ hôn, ấy là người đó, hãy bắt lấy.
49Te dongah Jesuh te koe a paan tih, “Rhabbi, na sading saeh,” a ti na tih a mok.
49Tức thì Giu-đa đến gần Đức Chúa Jêsus mà rằng: Chào thầy! Rồi hôn Ngài.
50Tedae Jesuh loh anih taengah, “ Pueivan aw balae aka om? ” a ti nah. Te vaengah Jesuh te a paan uh, kut a hlah thil uh tih a tuuk uh.
50Nhưng Đức Chúa Jêsus phán cùng nó rằng: Bạn ơi! vậy thì vì việc nầy mà ngươi đến đây sao? Rồi chúng nó đến gần tra tay bắt Đức Chúa Jêsus.
51Te vaengah Jesuh taengkah pakhat loh kut a yueng tih a cunghang te a yueh. Te phoeiah khosoihham kah sal te a tloek tih a hna a pat pah.
51Và nầy, có một người trong những người ở với Đức Chúa Jêsus giơ tay rút gươm ra, đánh đầy tớ của thầy cả thượng phẩm, chém đứt một cái tai của người.
52Jesuh loh anih te, “ Na cunghang te amah hmuen ah koep khueh laeh, cunghang aka muk boeih tah cunghang dongah poci uh ni .
52Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hãy nạp gươm vào vỏ; vì hễ ai cầm gươm thì sẽ bị chết về gươm.
53A pa te khue ham coeng mahpawh tila na poek uh a? Puencawn caempuei caempa hlainit hlai pataeng kai ham pahoi a paisak ni ta .
53Ngươi tưởng ta không có thể xin Cha ta lập tức cho ta hơn mười hai đạo thiên sứ sao?
54Te koinih, cacim loh a om ham a kuek te metlam a soep pai eh,” a ti nah.
54Nếu vậy, thế nào cho ứng nghiệm lời Kinh Thánh đã chép rằng việc nầy tất phải xảy đến?
55Tekah a tue ah Jesuh loh hlangping te, “ Kai tuuk ham thingboeng, cunghang neh dingca bangla nam paan uh, hnin takuem bawkim ah ka ngol tih ka thuituen vaengah kai nan tuuk uh pawt lae?
55Lúc bấy giờ, Đức Chúa Jêsus phán cùng chúng rằng: Các ngươi đem gươm và gậy đến mà bắt ta, khác nào như ta là kẻ cướp. Ta thường ngày ngồi trong đền thờ và giảng dạy tại đó, mà các ngươi không bắt ta.
56Tedae aka om boeih nen he ni tonghma rhoek kah cacim khaw a soep eh,” a ti nah. Te vaengah Jesuh te hnukbang rhoek loh boeih a toeng uh tih rhaelrham uh.
56Nhưng mọi điều ấy phải xảy đến, hầu cho những lời các đấng tiên tri đã chép được ứng nghiệm. Khi ấy, hết thảy môn đồ bỏ Ngài mà trốn đi.
57Te vaengkah aka tuu rhoek loh Jesuh te khosoihham Kaiaphas taengah a khuen uh. Te rhoek ah cadaek rhoek neh a ham rhoek tah tingtun uh.
57Những kẻ đã bắt Đức Chúa Jêsus đem Ngài đến nhà thầy cả thượng phẩm Cai-phe, tại đó các thầy thông giáo và các trưởng lão đã nhóm lại.
58Peter loh khosoihham kah vongup duela hawt a vai. Te phoeiah hnuktloih te ming hamla a khuila kun tih tueihyoeih rhoek taengah ngol.
58Phi-e-rơ theo Ngài xa xa cho đến sân của thầy cả thượng phẩm, vào ngồi với các kẻ canh giữ đặng coi việc ấy ra làm sao.
59Khosoihham rhoek neh khoboei rhoek boeih loh Jesuh te ngawn hamla a hong a hi neh a paelnaeh thil uh.
59Bấy giờ các thầy tế lễ cả và cả tòa công luận kiếm chứng dối về Ngài, cho được giết Ngài.
60A paelnaeh uh tloel vaengah laithae laidang neh muep a paan uh. Tedae a tloihsoi ah panit loh a paan tih,
60Dầu có nhiều người làm chứng dối có mặt tại đó, song tìm không được chứng nào cả. Sau hết, có hai người đến,
61“Anih loh, 'Pathen kah bawkim te phae tih hnin thum ah ka sak thai,’ a ti,” a ti rhoi.
61nói như vầy: Người nầy đã nói Ta có thể phá đền thờ của Đức Chúa Trời, rồi dựng lại trong ba ngày.
62Te vaengah khosoihham te pai tih, “Amih rhoi loh nang m'pael te na doo mapawt a?” a ti nah.
62Thầy cả thượng phẩm bèn đứng dậy mà nói với Ngài rằng: Những người nầy làm chứng mà kiện ngươi, ngươi không thưa lại gì sao?
63Tedae Jesuh loh hil a phah. Khosoihham loh, “Nang he Pathen capa Khrih la na om tangtang atah kaimih taengah thui lah tila aka hing Pathen ming neh nang kan ti nah,” a ti nah.
63Nhưng Đức Chúa Jêsus cứ làm thinh. Thầy cả thượng phẩm lại nói với Ngài rằng: Ta khiến ngươi chỉ Đức Chúa Trời hằng sống mà thề, hãy nói cho chúng ta, ngươi có phải là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời chăng?
64Jesuh loh anih te, “ Namah loh na thui coeng. Tedae nangmih taengah ka thui, tahae lamloh Hlang Capa te thaomnah bantang ah ngol vetih vaan kah muei dongah ha pawk te na hmuh uh ni,” a ti nah.
64Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời; vả lại, ta nói cùng các ngươi, về sau các ngươi sẽ thấy Con người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự trên mây từ trời mà xuống.
65Te vaengah khosoihham loh a himbai te a phen tih, “A soehsal coeng, mebang laipai lae koep n'ngoe eh?, a soehsalnah khaw na yaak uh coeng he.
65Thầy cả thượng phẩm bèn xé áo mình mà nói rằng: Nó đã nói phạm thượng; chúng ta còn cần gì người làm chứng nữa sao? Các ngươi vừa nghe lời phạm thượng đó, thì nghĩ làm sao?
66Metlam na poek?” a ti nah . Te vaengah a doo uh tih, “A dueknah om kueluek saeh,” a ti uh .
66Chúng trả lời rằng: Nó đáng chết!
67Te phoeiah Jesuh te a maelhmai ah a timthoeih uh tih a thoek uh.
67Họ bèn nhổ trên mặt Ngài, đấm Ngài, lại có kẻ vả Ngài,
68Te vaengkah aka bael rhoek loh, “Khrih nang, kaimih taengah phong lah, unim nang aka bael te,” a ti na uh.
68mà nói rằng: Hỡi Đấng Christ, hãy nói tiên tri đi; cho chúng ta biết ai đánh ngươi.
69Tedae Peter tah vongup khuiah hoeih ngol. Te vaengah salnu pakhat loh anih te a paan tih, “Nang khaw Galilee kah Jesuh taengah na om,” a ti nah.
69Bấy giờ Phi-e-rơ vẫn ngồi ngoài sân. Có một người đầy tớ gái đến gần, mà nói cùng người rằng: Ngươi cũng là kẻ ở với Jêsus, người Ga-li-lê.
70Tedae hlang boeih hmaiah basa tih, “Na thui te ka ming moenih,” a ti nah.
70Song Phi-e-rơ chối trước mặt chúng mà rằng: Ta không hiểu ngươi nói chi.
71Te phoeiah vongka la cet dae a tloe loh a hmuh tih tekah rhoek taengah, “Anih he Nazareth Jesuh taengah om,” a ti nah.
71Khi đi ra ngoài cửa, lại có một đầy tớ gái khác thấy người, bèn nói cùng kẻ ở đó rằng: Người nầy cũng ở với Jêsus, người Na-xa-rét.
72Te vaengah, “Tekah hlang te ka ming moenih,” tila olhlo neh koep basa.
72Song Phi-e-rơ lại chối và thề rằng: Ta chẳng hề biết người ấy.
73Rhaih a om atah aka pai rhoek loh Peter te a paan uh tih, “Namah khaw amih kah hlang rhep ni, namah kah olcal long mah nang m'mingpha sak coeng,” a ti na uh.
73Một chặp nữa, những kẻ ở gần đó đến gần nói với Phi-e-rơ rằng: Chắc thật, ngươi cũng thuộc về đảng ấy, vì tiếng nói của ngươi khai ngươi ra.
74Tedae pahoi thae a phoei tih, “Tekah hlang te ka ming moenih, “tila a toemngam vaengah ai tlek khong.
74Người bèn rủa mà thề rằng: Ta không biết người đó đâu! Tức thì gà gáy.
75Te vaengah Peter loh Jesuh kah olka, “ Ai a khong hlanah kai voei thum nan huek uh tak ni,” a ti nah te poek. Te dongah phawn cet tih hlawk hlawk rhap.
75Phi-e-rơ nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã phán rằng: Trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần. Đoạn, người đi ra và khóc lóc cách đắng cay.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.