Mathai
Chapter 21
Baibal Olcim (Matupi Chin)

Read in

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)
vs Vietnamese Bible (…

Compare with

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)Stop comparing
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Mathai 21

Baibal Olcim (Matupi Chin)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Jerusalem taengla a yoei uh vaengah Olives tlang kah Bethphage la pawk uh. Te vaengah Jesuh loh a hnukbang panit te a tueih tih,
1Vừa khi Đức Chúa Jêsus cùng môn đồ gần đến thành Giê-ru-sa-lem, và đã tới thành Bê-pha-giê, bên núi Ô-li-ve rồi, thì Ngài sai hai môn đồ,
2“ Na rhaldan kah kho la cet rhoi lamtah muli-marhang neh a taengah a ca a pael te kawl na hmuh rhoi ni. Hlam rhoi lamtah kai taengla hang khuen rhoi .
2mà phán rằng: Hãy đi đến làng ở trước mặt các ngươi, tức thì sẽ gặp một con lừa cái bị cột, với một con lừa con; hãy mở ra và dắt đến cho ta.
3Khat khat loh nangmih rhoi te khoem n'thui sak atah, 'Boeipa loh a ngoe,’ ti nah.Te vaengah koe han hlah bitni,” a ti nah.
3Nếu có ai nói chi với các ngươi, hãy trả lời rằng Chúa cần dùng hai con lừa đó; tức thì họ sẽ gởi lừa đi.
4He he a om daengah ni tonghma loh a thui te a soep eh.
4Vả, điều ấy xảy ra để cho ứng nghiệm lời của đấng tiên tri rằng:
5“Zion nu te thui pah, na manghai tah nang taengla ha pawk coeng te, muli-marhang so neh laak tal ca soah khaw muelhtuet la ngol,” a ti.
5Hãy nói với con gái thành Si-ôn rằng: Nầy, vua ngươi đến cùng ngươi, Nhu mì, cỡi lừa Và lừa con, là con của lừa cái mang ách.
6Hnukbang rhoi te cet rhoi tih Jesuh kah a thuinuet bangla a saii rhoi.
6Hai môn đồ bèn đi, và làm y theo lời Đức Chúa Jêsus đã dạy.
7Muli-marhang neh a ca te a khuen rhoi tih himbai a tloeng uh thil phoeiah a ngoldoelh thil.
7Hai người dắt lừa cái và lừa con, trải áo mình trên lưng lừa, và nâng Ngài cỡi lên.
8Te vaengah hlangping a kumngai loh longpuei ah a himbai te a phaih uh. A tloe rhoek loh thing kah a hlaeng te a hlaek uh tih longpuei ah a phaih uh.
8Bấy giờ phần nhiều trong đám dân đông trải áo mình trên đường; kẻ khác chặt nhánh cây mà rải ra giữa đường.
9Te phoeiah a hmaila aka lamhma neh a hnuk kah aka vai hlangping loh pang uh tih, “David capa tah Hosanna, Boeipa ming neh aka pawk tah a yoethen pai, sangkoek ah Hosanna,” a ti uh.
9Đoàn dân đi trước và theo sau đều kêu lên rằng: Hô-sa-na con vua Đa-vít! Đáng khen ngợi cho Đấng nhân danh Chúa mà đến! Hô-sa-na ở trên nơi rất cao!
10Jerusalem la a kun vaengah khopuei boeih hinghuen tih, “Anih he unim,” a ti uh.
10Khi Ngài đã vào thành Giê-ru-sa-lem, thì cả thành đều xôn xao, nói rằng: Người nầy là ai?
11Te vaengah hlangping loh, “Anih he Galilee Nazareth lamkah tonghma Jesuh ni,” a ti uh.
11Chúng trả lời rằng: Aáy là Đấng tiên tri Jêsus ở thành Na-xa-rét, xứ Ga-li-lê.
12Jesuh te bawkim khuila kun tih bawkim kah hno yoi rhoek neh hno lai rhoek te boeih a haek, tangkathung rhoek kah caboei neh vahu aka yoi rhoek kah ngoltlang te a palet pah.
12Đức Chúa Jêsus vào đền thờ, đuổi hết kẻ bán người mua ở đó; đổ bàn của người đổi bạc, và ghế của người bán bò câu.
13Te phoeiah amih te, “ Ka im tah , ' Thangthuinah im la khue saeh ,’ tila a daek coeng. Tedae nangmih loh dingca rhoek kah a khuirhung la na khueh uh,” a ti nah.
13Ngài phán cùng họ rằng: Có lời chép: Nhà ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện; nhưng các ngươi thì làm cho nhà ấy thành ra ổ trộm cướp.
14Te vaengah amah te mikdael rhoek neh aka khaem rhoek loh Bawkim ah a paan uh tih amih te a hoeih sak.
14Bấy giờ, những kẻ mù và què đến cùng Ngài trong đền thờ, thì Ngài chữa cho họ được lành.
15Tedae khobae rhambae la a saii neh camoe rhoek loh bawkim ah pang tih, “David Capa tah Hosanna,” a ti uh khosoihham rhoek neh cadaek rhoek loh a hmuh uh vaengah a yakdam uh.
15Nhưng các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo thấy sự lạ Ngài đã làm, và nghe con trẻ reo lên trong đền thờ rằng: Hô-sa-na con vua Đa-vít! thì họ tức giận,
16Te dongah Jesuh te, “He rhoek loh a thui te na yaak a?” a ti nah. Te vaengah Jesuh loh amih te, “ Ue, na tae uh mahnim? “' Cahmang neh cacun rhoek kah ka lamkah loh thangthennah na rhoekbah coeng ,’ a ti ta,” a ti nah.
16và nói với Ngài rằng: Thầy có nghe điều những đứa trẻ nầy nói không? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Có. Vậy chớ các ngươi chưa hề đọc lời nầy: Chúa đã được ngợi khen bởi miệng con trẻ và con đang bú, hay sao?
17Te phoeiah amih te a hnoo phoeiah khopuei lamkah loh Bethany la cet tih pahoi rhaeh.
17Đoạn, Ngài bỏ họ, đi ra khỏi thành mà đến làng Bê-tha-ni và nghỉ đêm ở đó.
18Khopuei la yueya a bal vaengah tah a bungpong.
18Sáng mai, khi trở lại thành thì Ngài đói.
19Long ah thaibu kung pakhat a hmuh tih a taengla a paan. Tedae a hnah bueng mueh atah a kung dongah bang khaw hmu pawh. Te dongah, “ Dungyan duela nang kah a thaih om boel saeh,” a ti nah tih thaibu kung tah pahoi koh.
19Thấy một cây vả ở bên đường, Ngài bèn lại gần, song chỉ thấy những lá mà thôi, thì Ngài phán cùng cây vả rằng: Mầy chẳng khi nào sanh ra trái nữa! Cây vả tức thì khô đi.
20Hnukbang rhoek loh a hmuh uh vaengah a ngaihmang uh tih, “Metlamlae thaibu kung tlek a koh ca,” a ti uh.
20Môn đồ thấy điều đó, lấy làm k”, nói rằng: Cớ sao trong giây phút mà cây vả liền khô đi vậy?
21Jesuh loh amih te a doo tih, “ Nangmih taengah rhep kan thui, tangnah na khueh uh tih na boelhkhoeh pawt atah, thaibu kung bueng te na saii uh pawt vetih hekah tlang he phoek tih tuili khuila hlak ham pataeng na ti nah uh koinih coeng tangloeng ngawn ni .
21Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi có đức tin, và không nghi ngờ chi hết, thì chẳng những các ngươi làm được điều đã làm cho cây vả mà thôi, song dầu các ngươi biểu hòn núi nầy rằng: Hãy cất mình lên và quăng xuống biển, điều đó cũng sẽ làm được.
22Te phoeiah thangthuinah neh vawpvawp na bih uh te tah tangnah neh na dang uh ni,” a ti nah.
22Trong khi cầu nguyện, các ngươi lấy đức tin xin việc gì bất k”, thảy đều được cả.
23Bawkim khuila Jesuh pawk tih a thuituen vaengah khosoihham rhoek neh pilnam kah a ham rhoek loh anih te a paan uh. Te phoeiah, “Mebang saithainah nen lae saii he ? Te phoeiah hekah saithainah he u long nang m'paek ?“a ti na uh.
23Đức Chúa Jêsus vào đền thờ rồi, đang giảng đạo, có các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân đến mà hỏi rằng: Bởi quyền phép nào mà thầy làm những sự nầy, và ai đã cho thầy quyền phép ấy?
24Jesuh loh amih te a doo tih, “Nangmih te ol pakhat kan dawt eh. Te te kai taengah nan thui uh atah he rhoek he mebang saithainah neh ka saii khaw nangmih taengah kan thui bitni .
24Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta cũng sẽ hỏi các ngươi một điều; nếu trả lời được, thì ta cũng sẽ nói cho các ngươi bởi quyền phép nào mà ta đã làm những việc đó.
25Baptisma Johan tah me lamkah lae ana om? Vaan lamkah a? Hlang lamkah a?” a ti nah. Te vaengah te rhoek loh amamih khuiah a poek uh tih, “'Vaan lamkah,’ n'ti uh koinih mamih te, 'Balae tih anih te na tangnah uh pawh,’ a ti veh.
25Phép báp-tem của Giăng bởi đâu? Bởi trên trời hay là bởi người ta? Vả, họ bàn riêng với nhau như vầy: Nếu chúng ta đáp rằng: Bởi trên trời, thì người sẽ nói với ta rằng: Vậy sao không tin lời người ấy?
26Tedae hlang lamkah n'ti uh koinih hlangping he koek n'rhih uh. Hlang boeih loh Johan te tonghma la a khueh uh,” a ti uh.
26Còn nếu đáp rằng: Bởi người ta, thì chúng ta sợ thiên hạ, vì thiên hạ đều cho Giăng là đấng tiên tri.
27Te dongah Jesuh te a doo uh tih, “ Ka ming uh pawh,” a ti uh . Tedae Jesuh loh amih te , “ Mebang saithainah neh ka saii he khaw nangmih taengah ka thui mahpawh .
27Vậy, họ trả lời Đức Chúa Jêsus rằng: Chúng tôi không biết. Ngài bèn phán cùng họ rằng: Ta cũng không bảo cho các ngươi bởi quyền phép nào mà ta làm những điều nầy.
28Nangmih ta metlam na poek? Hlang pakhat loh a ca panit a khueh. A cuek te a paan tih , “ Ka ca tihnin ah dum ah cet lamtah saii ne,” a ti nah .
28Các ngươi nghĩ làm sao? Một người kia có hai đứa con trai; nói cùng đứa thứ nhất, mà rằng: Con ơi, bữa nay con hãy ra làm vườn nho.
29Te vaengah te long te a doo tih , ' Ka ngaih pawh ,’ a ti nah. Tedae a hnukkhueng ah yut tih koep cet .
29Đứa ấy thưa rằng: Vâng; rồi không đi.
30Pakhat te a paan tih lamhma kah banngla a ti nah. Te long tah a doo tih , ' Ka cet ni boeipa ,’ a ti nah dae cet pawh .
30Đoạn, người cha đi đến đứa thứ hai, cũng bảo như vậy. Đứa nầy thưa rằng: Tôi không muốn đi. Nhưng sau ăn năn, rồi đi.
31Te rhoi panit khuiah ulae a napa kah kongaih aka saii,” a ti nah. Te vaengah, “Lamhma loh,” a ti na uh. Jesuh loh amih te, “ Nangmih taengah rhep ka thui, mangmucoi neh hlanghalh rhoek tah Pathen ram khuila nangmih lakah lamhma uh ni .
31Trong hai con trai đó, đứa nào làm theo ý muốn của cha? Họ đáp rằng: Đứa thứ hai. Đức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Đức Chúa Trời trước các ngươi.
32Johan loh duengnah longpuei neh nangmih taengla ha pawk dae anih te na tangnah uh moenih. Tedae mangmucoi rhoek neh hlanghalh rhoek loh anih te a tangnah. Nangmih loh na hmuh uh coeng dae anih te tangnah ham a tloihsoi ah khaw na yut uh moenih .
32Vì Giăng đã theo đường công bình đến cùng các ngươi, nhưng các ngươi không tin, còn những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm đã tin người; và các ngươi, khi đã thấy điều ấy, sau cũng không ăn năn đặng tin người.
33A tloe nuettahnah he hnatun uh lah. Lokung hlang pakhat om tih anih loh dum a tue. Te te vongtung a tung tih a khuiah misurrhom a too, imsang khaw a sak. Te phoeiah lotawn rhoek a phaam sak tih vik yiin .
33Hãy nghe lời ví dụ khác. Có người chủ nhà kia, trồng một vườn nho, rào chung quanh, ở trong đào một cái hầm ép rượu, và cất một cái tháp; rồi cho những kẻ trồng nho mướn, và đi qua xứ khác.
34A thaih tue a yoei vaengah a sal rhoek te a thaih doe sak ham lotawn rhoek taengla a tueih .
34Đến mùa hái trái, người chủ sai đầy tớ đến cùng bọn trồng nho, đặng thâu hoa lợi.
35Te vaengah lotawn rhoek loh lokung kah sal rhoek te a tuuk uh tih, pakhat te a boh uh, pakhat te a ngawn uh, pakhat te a dae uh .
35Bọn trồng nho bắt các đầy tớ, đánh người nầy, giết người kia, và ném đá người nọ.
36Te phoeiah sal tloe te lamhma kah lakah muep a tueih dae amih te khaw a saii uh tangkhuet .
36Người chủ lại sai đầy tớ khác đông hơn khi trước; thì họ cũng đối đãi một cách.
37A hnukkhueng ah a capa te amih taengla a tueih tih , “ Ka capa tah a yahnah uh bitni,” a ti .
37Sau hết, người chủ sai chính con trai mình đến cùng họ, vì nói rằng: Chúng nó sẽ kính trọng con ta.
38Tedae lotawn rhoek loh a capa te a hmuh uh vaengah amamih te , “ Anih tah rhopangkung la om, Halo, anih he ngawn uh sih lamtah a rho he rhawt pa uh sih,” a ti uh .
38Nhưng khi bọn trồng nho thấy con đó, thì nói với nhau rằng: Người nầy là kẻ kế tự đây; hè! hãy giết nó đi, và chiếm lấy phần gia tài nó.
39Te dongah anih te a tuuk uh phoeiah misurdum lamkah loh voelh a haek uh tih a ngawn uh .
39Họ bèn bắt con ấy, quăng ra ngoài vườn nho, và giết đi.
40Te dongah misurdum kah boeipa te a pawk vaengah lotawn rhoek te metlam a saii eh? ” a ti nah.
40Vậy, khi người chủ vườn nho đến, thì sẽ xử với bọn làm vườn ấy thể nào?
41Te vaengah, “Amih boethae duet rhoek te a poci sak vetih misurdum te a tloe kah lotawn rhoek a phaam sak ni. Te rhoek long tah a thaih te amah tue vaengah a taengla a thuung ni,” a ti uh.
41Chúng trả lời rằng: Người chủ sẽ diệt đồ hung ác ấy cách khổ sở, và cho bọn trồng nho khác mướn vườn ấy, là kẻ sẽ nộp hoa lợi lúc đến mùa.
42Jesuh loh amih te, “ Cacim khuiah na tae uh mahnim? Im sa rhoek loh a hnawt uh lungto te imkil lu la poeh. He tah Boeipa lamkah loh poeh tih mamih mikhmuh ah a khuet la om ta .
42Đức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Các ngươi há chưa hề đọc lời trong Kinh Thánh: Hòn đá đã bị người xây nhà bỏ ra, Trở nên đá đầu góc nhà; Aáy là việc Chúa làm, Và là một sự lạ trước mắt chúng ta, hay sao?
43Te dongah nangmih taengah kan thui , “ Pathen kah ram tah nangmih taeng lamkah loh a khuen vetih a thaih aka saii namtom taengah a paek ni
43Bởi vậy, ta phán cùng các ngươi, nước Đức Chúa Trời sẽ cất khỏi các ngươi, và cho một dân khác là dân sẽ có kết quả của nước đó.
44Te dongah hekah lungto soah aka tla tah tlawt vetih, lungto loh a tlak thil te khaw amah ni aka tip eh,” a ti nah.
44Kẻ nào rơi trên hòn đá ấy sẽ bị giập nát, còn kẻ nào bị đá ấy rớt nhằm thì sẽ tan tành như bụi.
45Tedae khosoihham rhoek neh Pharisee rhoek loh a yaak uh vaengah, anih kah nuettahnah te amih kawng ni a thui tila a ming uh.
45Các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si nghe những lời ví dụ đó, thì biết Ngài nói về mình.
46Te dongah anih te tuuk hamla a mae uh dae Jesuh te tonghma la a khueh uh dongah hlangping te a rhih uh.
46Họ bèn tìm cách để bắt Ngài; song sợ thiên hạ vì thiên hạ tôn Ngài là đấng tiên tri.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.