Mateus 26
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Quando Jesus terminou de dizer todas essas palavras, disse aos seus discípulos:
1Vả, Đức Chúa Jêsus đã phán những lời ấy xong rồi, thì phán cùng môn đồ rằng:
2“Vocês sabem que daqui a dois dias é a Páscoa, e o Filho do Homem será entregue para ser crucificado.”
2Các ngươi biết rằng còn hai ngày nữa thì đến lễ Vượt qua, và Con người sẽ bị nộp để chịu đóng đinh trên cây thập tự.
3Então os principais sacerdotes, os escribas e os anciãos do povo se reuniram no pátio do sumo sacerdote, chamado Caifás.
3Bấy giờ các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân nhóm lại trong tòa thầy cả thượng phẩm tên là Cai-phe;
4Eles conspiraram juntos para prender Jesus de forma traiçoeira e matá-lo.
4và bàn với nhau dùng mưu chước gì đặng bắt Đức Chúa Jêsus mà giết.
5Mas eles diziam: “Não durante a festa, para que não haja tumulto entre o povo.”
5Song họ nói rằng: Không nên làm trong ngày lễ, e trong dân chúng sanh ra điều xào xạc chăng.
6Estando Jesus em Betânia, na casa de Simão, o leproso,
6Khi Đức Chúa Jêsus ở làng Bê-tha-ni, tại nhà Si-môn là người phung,
7aproximou-se dele uma mulher com um frasco de alabastro contendo um perfume muito caro, e o derramou sobre a cabeça dele, enquanto ele estava reclinado à mesa.
7có một người đàn bà cầm cái chai bằng ngọc trắng đựng dầu thơm quí giá lắm, đến gần mà đổ trên đầu Ngài đang khi ngồi ăn.
8Mas, quando os discípulos viram isso, ficaram indignados e disseram: “Para que este desperdício?
8Môn đồ thấy vậy, giận mà trách rằng: Sao phí của như vậy?
9Pois este perfume poderia ter sido vendido por muito dinheiro, e o valor dado aos pobres.”
9Dầu nầy có thể bán được nhiều tiền và lấy mà thí cho kẻ nghèo nàn.
10Entretanto, sabendo disso, Jesus lhes disse: “Por que vocês incomodam a mulher? Ela fez uma boa obra para mim.
10Đức Chúa Jêsus biết điều đó, bèn phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi làm khó cho người đàn bà đó? Người đã làm việc tốt cho ta;
11Pois os pobres vocês sempre têm consigo, mas a mim vocês nem sempre terão.
11vì các ngươi thường có kẻ nghèo ở cùng mình, song sẽ không có ta ở cùng luôn luôn.
12Pois, ao derramar este perfume em meu corpo, ela o fez para me preparar para o sepultamento.
12Người đổ dầu thơm trên mình ta là để sửa soạn chôn xác ta đó.
13Em verdade lhes digo: onde quer que este Evangelho seja pregado em todo o mundo, o que esta mulher fez também será contado em memória dela.”
13Quả thật, ta nói cùng các ngươi, khắp cả thế gian, hễ nơi nào Tin Lành nầy được giảng ra, thì cũng thuật lại việc người ấy đã làm để nhớ đến người.
14Então um dos doze, chamado Judas Iscariotes, foi aos principais sacerdotes
14Bấy giờ có một người trong mười hai sứ đồ, tên là Giu-đa ỗch-ca-ri-ốt, đến tìm các thầy tế lễ cả,
15e disse: “O que vocês estão dispostos a me dar se eu o entregar a vocês?” Então eles lhe pesaram trinta moedas de prata.
15mà nói rằng: Các thầy bằng lòng trả cho tôi bao nhiêu đặng tôi sẽ nộp người cho? Họ bèn trả cho nó ba chục bạc.
16Daquele momento em diante, ele buscava uma oportunidade para traí-lo.
16Từ lúc đó, nó tìm dịp tiện để nộp Đức Chúa Jêsus.
17No primeiro dia da Festa dos Pães Asmos, os discípulos aproximaram-se de Jesus e lhe perguntaram: “Onde você quer que preparemos a refeição da Páscoa para você comer?”
17Trong ngày thứ nhất ăn bánh không men, môn đồ đến gần Đức Chúa Jêsus mà thưa rằng: Thầy muốn chúng tôi dọn cho thầy ăn lễ Vượt qua tại đâu?
18Ele disse: “Vão à cidade, a um certo homem, e digam-lhe: ‘O Mestre diz: “O meu tempo está próximo. Celebrarei a Páscoa em sua casa com os meus discípulos.”’”
18Ngài đáp rằng: Hãy vào thành, đến nhà một người kia, mà nói rằng: Thầy nói: Giờ ta gần đến; ta và môn đồ ta sẽ giữ lễ Vượt qua trong nhà ngươi.
19Os discípulos fizeram como Jesus lhes havia ordenado e prepararam a Páscoa.
19Môn đồ làm y như lời Đức Chúa Jêsus đã dạy mà dọn lễ Vượt qua.
20Ao cair da tarde, ele estava reclinado à mesa com os doze discípulos.
20Đến tối, Ngài ngồi ăn với mười hai sứ đồ.
21Enquanto comiam, ele disse: “Em verdade lhes digo que um de vocês me trairá.”
21Khi đang ăn, Ngài phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi rằng có một người trong các ngươi sẽ phản ta.
22Eles ficaram profundamente entristecidos, e cada um começou a lhe perguntar: “Por acaso sou eu, Senhor?”
22Các môn đồ lấy làm buồn bực lắm, và lần lượt hỏi Ngài rằng: Lạy Chúa, có phải tôi không? Ngài đáp rằng:
23Ele respondeu: “Aquele que mergulhou a mão comigo no prato é quem me trairá.
23Kẻ nào để tay vào mâm với ta, ấy là kẻ sẽ phản ta.
24O Filho do Homem vai, assim como está escrito a seu respeito, mas ai daquele homem por quem o Filho do Homem é traído! Teria sido melhor para esse homem se ele não tivesse nascido.”
24Con người đi, y theo lời đã chép về Ngài; song khốn nạn thay cho kẻ phản Con người! Thà nó chẳng sanh ra thì hơn!
25Judas, o que o traiu, respondeu: “Por acaso sou eu, Rabi?” Ele lhe disse: “Você mesmo o disse.”
25Giu-đa là kẻ phản Ngài cất tiếng hỏi rằng: Thưa thầy, có phải tôi chăng? Ngài phán rằng: Thật như ngươi đã nói.
26Enquanto comiam, Jesus tomou o pão, deu graças por ele, e o partiu. Ele o deu aos discípulos e disse: “Tomem, comam; isto é o meu corpo.”
26Khi đang ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bẻ ra đưa cho môn đồ mà rằng: Hãy lấy ăn đi, nầy là thân thể ta.
27Ele tomou o cálice, deu graças, e o deu a eles, dizendo: “Bebam dele, todos vocês,
27Ngài lại lấy chén, tạ ơn rồi, đưa cho môn đồ mà rằng: Hết thảy hãy uống đi;
28pois isto é o meu sangue da nova aliança, que é derramado por muitos para a remissão dos pecados.
28vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội.
29Mas eu lhes digo que não beberei deste fruto da videira de agora em diante, até aquele dia em que o beberei novamente com vocês no Reino de meu Pai.”
29Ta phán cùng các ngươi, từ rày về sau, ta không uống trái nho nầy nữa, cho đến ngày mà ta sẽ uống trái nho mới cùng các ngươi ở trong nước của Cha ta.
30Depois de terem cantado um hino, saíram para o Monte das Oliveiras.
30Khi đã hát thơ thánh rồi, Đức Chúa Jêsus và môn đồ đi ra mà lên núi Ô-li-ve.
31Então Jesus lhes disse: “Todos vocês tropeçarão por minha causa esta noite, pois está escrito: ‘Ferirei o pastor, e as ovelhas do rebanho serão dispersas.’
31Ngài bèn phán rằng: Đêm nay các ngươi sẽ đều vấp phạm vì cớ ta, như có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì chiên trong bầy sẽ bị tan lạc.
32Mas, depois que eu for ressuscitado, irei antes de vocês para a Galileia.”
32Song sau khi ta sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi.
33Mas Pedro lhe respondeu: “Ainda que todos tropecem por sua causa, eu nunca tropeçarei.”
33Phi-e-rơ cất tiếng thưa rằng: Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, song tôi chắc không bao giờ vấp phạm vậy.
34Jesus lhe disse: “Em verdade lhe digo que esta noite, antes que o galo cante, você me negará três vezes.”
34Đức Chúa Jêsus phán rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, chính đêm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần.
35Pedro lhe disse: “Mesmo que eu tenha de morrer com você, eu não o negarei.” E todos os discípulos disseram o mesmo.
35Phi-e-rơ thưa rằng: Dầu tôi phải chết với thầy đi nữa, tôi chẳng chối thầy đâu. Hết thảy môn đồ đều nói y như vậy.
36Então Jesus foi com eles a um lugar chamado Getsêmani, e disse aos seus discípulos: “Sentem-se aqui, enquanto eu vou ali orar.”
36Rồi Đức Chúa Jêsus cùng môn đồ đi đến một chỗ kêu là Ghết-sê-ma-nê. Ngài phán rằng: Hãy ngồi đây đợi ta đi cầu nguyện đằng kia.
37Ele levou consigo Pedro e os dois filhos de Zebedeu, e começou a entristecer-se e a angustiar-se profundamente.
37Đoạn, Ngài bèn đem Phi-e-rơ và hai người con của Xê-bê-đê đi với mình, tức thì Ngài buồn bực và sầu não lắm.
38Então Jesus lhes disse: “A minha alma está profundamente triste, até a morte. Fiquem aqui e vigiem comigo.”
38Ngài bèn phán: Linh hồn ta buồn bực cho đến chết; các ngươi hãy ở đây và tỉnh thức với ta.
39Indo um pouco mais adiante, prostrou-se com o rosto em terra e orou, dizendo: “Meu Pai, se for possível, afasta de mim este cálice; contudo, não seja como eu desejo, mas como tu desejas.”
39Rồi Ngài bước tới một ít, sấp mặt xuống đất mà cầu nguyện rằng: Cha ơi! nếu có thể được, xin cho chén nầy lìa khỏi Con! Song không theo ý muốn Con, mà theo ý muốn Cha.
40Ele voltou aos discípulos e os encontrou dormindo, e disse a Pedro: “Então, vocês não puderam vigiar comigo por uma hora?
40Kế đó, Ngài trở lại với môn đồ, thấy đang ngủ, thì Ngài phán cùng Phi-e-rơ rằng: Thế thì các ngươi không tỉnh thức với ta trong một giờ được!
41Vigiem e orem, para que não entrem em tentação. O espírito, na verdade, está pronto, mas a carne é fraca.”
41Hãy thức canh và cầu nguyện, kẻo các ngươi sa vào chước cám dỗ; tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối.
42Retirando-se novamente pela segunda vez, orou, dizendo: “Meu Pai, se este cálice não pode ser afastado de mim sem que eu o beba, seja feita a tua vontade.”
42Ngài lại đi lần thứ hai, mà cầu nguyện rằng: Cha ơi! nếu chén nầy không thể lìa khỏi Con được mà Con phải uống thì xin ý Cha được nên.
43Ele voltou novamente e os encontrou dormindo, pois os olhos deles estavam pesados.
43Ngài trở lại nữa, thì thấy môn đồ còn ngủ; vì mắt họ đã đừ quá rồi.
44Deixando-os novamente, afastou-se e orou pela terceira vez, dizendo as mesmas palavras.
44Đoạn, Ngài bỏ mà lại đi cầu nguyện lần thứ ba, và lặp xin như lời trước.
45Então ele voltou aos seus discípulos e lhes disse: “Vocês ainda estão dormindo e descansando? Eis que a hora está próxima, e o Filho do Homem é traído e entregue nas mãos de pecadores.
45Rồi Ngài đi đến với môn đồ, mà phán rằng: Bây giờ các ngươi ngủ và nghỉ ngơi ư! Nầy, giờ đã gần tới, Con người sẽ bị nộp trong tay kẻ có tội.
46Levantem-se, vamos. Eis que aquele que me trai está próximo.”
46Hãy chờ dậy, đi hè, kìa kẻ phản ta đến kia.
47Enquanto ele ainda falava, eis que chegou Judas, um dos doze, e com ele uma grande multidão com espadas e porretes, enviada pelos principais sacerdotes e anciãos do povo.
47Khi Ngài còn đang phán, xảy thấy Giu-đa là một người trong mười hai sứ đồ đến với một bọn đông người cầm gươm và gậy, mà các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân đã sai đến.
48Ora, aquele que o traía lhes havia dado um sinal, dizendo: “Aquele que eu beijar, é ele. Prendam-no.”
48Đứa phản Ngài đã trao cho bọn đó dấu nầy: Người nào mà tôi sẽ hôn, ấy là người đó, hãy bắt lấy.
49Imediatamente ele se aproximou de Jesus e disse: “Saudações, Rabi!”, e o beijou.
49Tức thì Giu-đa đến gần Đức Chúa Jêsus mà rằng: Chào thầy! Rồi hôn Ngài.
50Jesus lhe disse: “Amigo, por que você está aqui?” Então eles se aproximaram, deitaram as mãos em Jesus e o prenderam.
50Nhưng Đức Chúa Jêsus phán cùng nó rằng: Bạn ơi! vậy thì vì việc nầy mà ngươi đến đây sao? Rồi chúng nó đến gần tra tay bắt Đức Chúa Jêsus.
51Eis que um dos que estavam com Jesus estendeu a mão, puxou a sua espada e, ferindo o servo do sumo sacerdote, cortou-lhe a orelha.
51Và nầy, có một người trong những người ở với Đức Chúa Jêsus giơ tay rút gươm ra, đánh đầy tớ của thầy cả thượng phẩm, chém đứt một cái tai của người.
52Então Jesus lhe disse: “Coloque a sua espada de volta no lugar dela, pois todos os que tomam a espada, morrerão pela espada.
52Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hãy nạp gươm vào vỏ; vì hễ ai cầm gươm thì sẽ bị chết về gươm.
53Ou você acha que eu não poderia pedir a meu Pai, e ele me enviaria agora mesmo mais de doze legiões de anjos?
53Ngươi tưởng ta không có thể xin Cha ta lập tức cho ta hơn mười hai đạo thiên sứ sao?
54Como, então, se cumpririam as Escrituras, que dizem que assim deve acontecer?”
54Nếu vậy, thế nào cho ứng nghiệm lời Kinh Thánh đã chép rằng việc nầy tất phải xảy đến?
55Naquela hora, Jesus disse às multidões: “Vocês vieram me prender com espadas e porretes como se eu fosse um salteador? Todos os dias eu me sentava no templo ensinando, e vocês não me prenderam.
55Lúc bấy giờ, Đức Chúa Jêsus phán cùng chúng rằng: Các ngươi đem gươm và gậy đến mà bắt ta, khác nào như ta là kẻ cướp. Ta thường ngày ngồi trong đền thờ và giảng dạy tại đó, mà các ngươi không bắt ta.
56Mas tudo isso aconteceu para que as Escrituras dos profetas se cumprissem.” Então todos os discípulos o abandonaram e fugiram.
56Nhưng mọi điều ấy phải xảy đến, hầu cho những lời các đấng tiên tri đã chép được ứng nghiệm. Khi ấy, hết thảy môn đồ bỏ Ngài mà trốn đi.
57Aqueles que haviam prendido Jesus o levaram a Caifás, o sumo sacerdote, onde os escribas e os anciãos estavam reunidos.
57Những kẻ đã bắt Đức Chúa Jêsus đem Ngài đến nhà thầy cả thượng phẩm Cai-phe, tại đó các thầy thông giáo và các trưởng lão đã nhóm lại.
58Mas Pedro o seguiu de longe até o pátio do sumo sacerdote, entrou e sentou-se com os guardas, para ver o fim.
58Phi-e-rơ theo Ngài xa xa cho đến sân của thầy cả thượng phẩm, vào ngồi với các kẻ canh giữ đặng coi việc ấy ra làm sao.
59Ora, os principais sacerdotes, os anciãos e todo o conselho buscavam falso testemunho contra Jesus, para que pudessem condená-lo à morte,
59Bấy giờ các thầy tế lễ cả và cả tòa công luận kiếm chứng dối về Ngài, cho được giết Ngài.
60e não encontraram nenhum. Embora muitas falsas testemunhas tenham se apresentado, não encontraram nenhum. Mas, por fim, duas falsas testemunhas se apresentaram
60Dầu có nhiều người làm chứng dối có mặt tại đó, song tìm không được chứng nào cả. Sau hết, có hai người đến,
61e disseram: “Este homem disse: ‘Eu sou capaz de destruir o templo de Deus e de reconstruí-lo em três dias.’”
61nói như vầy: Người nầy đã nói Ta có thể phá đền thờ của Đức Chúa Trời, rồi dựng lại trong ba ngày.
62O sumo sacerdote levantou-se e lhe disse: “Você não tem resposta? O que eles estão testemunhando contra você?”
62Thầy cả thượng phẩm bèn đứng dậy mà nói với Ngài rằng: Những người nầy làm chứng mà kiện ngươi, ngươi không thưa lại gì sao?
63Mas Jesus permaneceu em silêncio. O sumo sacerdote lhe disse: “Eu o ponho sob juramento pelo Deus vivo: diga-nos se você é o Cristo, o Filho de Deus.”
63Nhưng Đức Chúa Jêsus cứ làm thinh. Thầy cả thượng phẩm lại nói với Ngài rằng: Ta khiến ngươi chỉ Đức Chúa Trời hằng sống mà thề, hãy nói cho chúng ta, ngươi có phải là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời chăng?
64Jesus lhe disse: “Você mesmo o disse. Contudo, eu lhes digo que, depois disso, vocês verão o Filho do Homem assentado à direita do Poder, e vindo sobre as nuvens do céu.”
64Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời; vả lại, ta nói cùng các ngươi, về sau các ngươi sẽ thấy Con người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự trên mây từ trời mà xuống.
65Então o sumo sacerdote rasgou as suas vestes, dizendo: “Ele blasfemou! Por que precisamos de mais testemunhas? Eis que agora vocês ouviram a sua blasfêmia.
65Thầy cả thượng phẩm bèn xé áo mình mà nói rằng: Nó đã nói phạm thượng; chúng ta còn cần gì người làm chứng nữa sao? Các ngươi vừa nghe lời phạm thượng đó, thì nghĩ làm sao?
66O que vocês acham?” Eles responderam: “Ele é digno de morte!”
66Chúng trả lời rằng: Nó đáng chết!
67Então cuspiram em seu rosto e o esmurraram, e alguns o esbofetearam,
67Họ bèn nhổ trên mặt Ngài, đấm Ngài, lại có kẻ vả Ngài,
68dizendo: “Profetize para nós, ó Cristo! Quem foi que bateu em você?”
68mà nói rằng: Hỡi Đấng Christ, hãy nói tiên tri đi; cho chúng ta biết ai đánh ngươi.
69Ora, Pedro estava sentado do lado de fora, no pátio, e uma serva aproximou-se dele, dizendo: “Você também estava com Jesus, o galileu!”
69Bấy giờ Phi-e-rơ vẫn ngồi ngoài sân. Có một người đầy tớ gái đến gần, mà nói cùng người rằng: Ngươi cũng là kẻ ở với Jêsus, người Ga-li-lê.
70Mas ele negou diante de todos, dizendo: “Não sei do que você está falando.”
70Song Phi-e-rơ chối trước mặt chúng mà rằng: Ta không hiểu ngươi nói chi.
71Quando ele saiu para o pórtico, outra serva o viu e disse aos que estavam ali: “Este homem também estava com Jesus de Nazaré.”
71Khi đi ra ngoài cửa, lại có một đầy tớ gái khác thấy người, bèn nói cùng kẻ ở đó rằng: Người nầy cũng ở với Jêsus, người Na-xa-rét.
72Novamente ele negou com um juramento: “Eu não conheço esse homem.”
72Song Phi-e-rơ lại chối và thề rằng: Ta chẳng hề biết người ấy.
73Pouco tempo depois, os que estavam ali se aproximaram e disseram a Pedro: “Certamente você também é um deles, pois o seu modo de falar o denuncia.”
73Một chặp nữa, những kẻ ở gần đó đến gần nói với Phi-e-rơ rằng: Chắc thật, ngươi cũng thuộc về đảng ấy, vì tiếng nói của ngươi khai ngươi ra.
74Então ele começou a praguejar e a jurar: “Eu não conheço esse homem!” Imediatamente o galo cantou.
74Người bèn rủa mà thề rằng: Ta không biết người đó đâu! Tức thì gà gáy.
75Pedro lembrou-se da palavra que Jesus lhe havia dito: “Antes que o galo cante, você me negará três vezes.” Então ele saiu e chorou amargamente.
75Phi-e-rơ nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã phán rằng: Trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần. Đoạn, người đi ra và khóc lóc cách đắng cay.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.