1 Dungkrhoekhaih 23
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1David loe mitong moe, saning coeh boeh pongah, a capa Solomon to Israel siangpahrang ah suek.
1Đa-vít đã già, cao tuổi, bèn lập Sa-lô-môn, con trai mình, làm vua Y-sơ-ra-ên.
2Israel angraengnawk boih, qaimanawk hoi Levi acaengnawk to nawnto amkhuengsak.
2Người nhóm các quan trưởng Y-sơ-ra-ên, cùng những thầy tế lễ, và người Lê-vi.
3Saning quithumto hoi ranui bang kapha Levi acaengnawk to a kroek boih, sangqum boih ah nongpa sing thum, sang tazetto oh o.
3Người ta lấy số người Lê-vi từ ba mươi tuổi trở lên, và số của họ, cứ đếm từng người, được ba vạn tám ngàn.
4Hae kaminawk thung ih kami sing hnet, sang palito loe Angraeng ih im tok to sak o; sang tarukto loe angraeng hoi lok takroekkung ah oh o.
4Trong số các người ấy, có hai vạn bốn ngàn người được cắt cai quản công việc của đền Đức Giê-hô-va; sáu ngàn người đều làm quan đốc lý và quan xét;
5Kami sang palito loe khongkha toepkung ah oh o moe, kami sang palito loe ka paek ih atuen congca hoiah Angraeng to saphaw o tih, tiah David mah a naa.
5còn bốn ngàn người đều làm kẻ canh cửa; và bốn ngàn người ngợi khen Đức Giê-hô-va bằng nhạc khí của Đa-vít đã làm đặng ngợi khen.
6David loe Levi acaeng to angmacae acaeng baktih toengah abu abu ah tapraek; to kaminawk loe Gershom, Kohath hoi Merari.
6Đa-vít phân họ từng ban thứ theo ba con trai Lê-vi, là Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri.
7Gershom acaengnawk loe Ladan hoi Shimei.
7Về con cháu Ghẹt-sôn có La-ê-đan và Si-mê-i.
8Ladan loe caa thumto sak; calu Jehiel, Zetham hoi Joel.
8Con trai của La-ê-đan là Giê-hi-ên làm trưởng, Xê-tham, và Giô-ên, ba người.
9Shimei loe caa thumto sak; Helemoth, Haziel hoi Haran. Hae kaminawk loe Ladan imthung takoh thung ih lu koek ah oh o.
9Con trai của Si-mê-i là Sê-lô-mít, Ha-xi-ên, và Ha-ran, ba người. Đó là các trưởng của tông tộc La-ê-đan.
10Shimei ih capanawk loe Jahath, Zina, Jeush hoi Beriah. Hae kami palitonawk loe Shimei ih caa ah oh o.
10Con trai của Si-mê-i là Gia-hát, Xi-na, Giê-úc, và Bê-ri-a. Aáy là bốn con trai của Si-mê-i.
11Jahath loe calu koekah oh, Zizah loe hnetto haih ah oh; toe Jeush hoi Beriah loe capa kapop ah tawn hoi ai; to pongah nihnik loe ampa maeto ih imthung takoh milu cazin thungah ni athum hoi.
11Gia-hát làm trưởng, còn Xi-xa là con thứ; nhưng Giê-úc và Bê-ri-a không có con cháu nhiều; nên khi lấy số thì kể chúng như một nhà.
12Kohath ih caanawk loe Amram, Izhar, Hebron hoi Uzziel; palito oh o.
12Con trai Kê-hát là Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn, U-xi-ên, bốn người.
13Amram ih caanawk loe Aaron hoi Mosi. Aaron hoi anih ih caanawk loe dungzan ah kaciim koek hmuennawk to tathlangh o moe, Angraeng hmaa ah hmuihoih thlaek to hanah, anih hmaa ah toksak moe, dungzan ahmin hoiah tahamhoihhaih paek hanah pahoe o.
13Con trai của Am-ram là A-rôn và Môi-se; A-rôn và con cháu người được phân biệt ra, để biệt riêng ra các vật chí thánh, và đời đời xông hương, hầu việc trước mặt Đức Giê-hô-va, cùng nhân danh Ngài mà chúc phước cho.
14Sithaw kami Mosi ih caanawk loe Levi acaeng thungah kroek o hmaek.
14Còn về Môi-se, người của Đức Chúa Trời, các con trai người đều được kể vào chi phái Lê-vi.
15Mosi ih caanawk loe Gershom hoi Eliezer.
15Con trai của Môi-se là Ghẹt-sôn và Ê-li-ê-xe.
16Gershom ih caanawk thungah Shebuel loe calu ah oh.
16Con trai của Ghẹt-sôn là Sê-bu-ên làm trưởng.
17Eliezer ih caanawk thungah Rehabiah loe calu ah oh. Rehabiah ih caanawk loe pop o parai; toe Eliezer loe kalah capanawk to tawn ai boeh.
17Con trai của Ê-li-ê-xe là Rê-ha-bia làm trưởng; Ê-li-ê-xe không có con trai nào khác; nhưng con trai của Rê-ha-bia nhiều lắm.
18Izhar ih caanawk thungah Shelomith loe calu ah oh.
18Con trai của Dít-sê-ha là Sê-lô-mít làm trưởng.
19Hebron ih caanawk thungah Jeriah loe calu ah oh; hnetto haih ah Amariah, thumto haih ah Jahaziel to oh moe, palito haih ah Jekameam to oh.
19Con trai của Hếp-rôn là Giê-ri-gia làm trưởng; A-ma-ria thứ nhì; Gia-ha-xi-ên thứ ba; và Giê-ca-mê-am thứ tư.
20Uzziel ih caanawk thungah Mikah loe calu ah oh; hnetto haih ah Jesiah to sak.
20Con trai của U-xi-ên là Mi-ca làm trưởng; và Di-si-gia con thứ.
21Merari ih caanawk loe Mahli hoi Mushi. Mahli ih caanawk loe Eleazar hoi Kish.
21Con trai của Mê-ra-ri là Mác-li và Mu-si. Con trai của Mác-li là Ê-lê-a-sa và Kích.
22Eleazar loe capa tawn ai ah duek; canu khue ni a tawnh; anih ih canunawk loe amnawk Kish ih capanawk mah zu ah lak o.
22Ê-lê-a-sa chết, không có con trai, chỉ có con gái mà thôi; các con trai của Kích là anh em chúng nó, bèn cưới chúng nó làm vợ.
23Mushi loe caa thumto sak; Mahli, Eder hoi Jeremoth.
23Con trai của Mu-si là Mác-li, Ê-đe và Giê-rê-mốt, ba người.
24Hae kaminawk loe saning pumphaeto hoi ranuih bang, Angraeng ih im ah toksah kami ah kaom, Levi acaeng thungah milu cazin kakun, acaeng zaehoikungnawk ah oh o.
24Đó là con cháu của Lê-vi theo tông tộc của họ, tức là trưởng tộc của những người được cai số từng danh từng người, từ hai mươi tuổi sắp lên, và hầu việc trong đền của Đức Giê-hô-va.
25David mah, Israel Angraeng Sithaw mah angmah ih kaminawk khaeah anghakhaih to paek boeh moe, Angraeng angmah doeh Jerusalem ah dungzan ah oh boeh pongah,
25Vì Đa-vít nói rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có ban sự bình an cho dân sự Ngài, và Ngài ngự tại Giê-ru-sa-lem đời đời;
26Levi acaengnawk mah kahni im aput han angai ai, to ah toksak hanah laom sabaenawk phawh han angai ai boeh, tiah a naa.
26người Lê-vi cũng sẽ chẳng còn cần khiêng vác đền tạm hay là các khí dụng về công việc đền tạm nữa.
27Hnukkhuem koek David mah paek ih loknawk baktih toengah, Levi acaengnawk loe saning pumphaeto hoi ranuih bang khue ni kroek o;
27Vì theo lời trối của Đa-vít, người ta tu bộ dân Lê-vi, từ hai mươi tuổi sấp lên.
28Angraeng ih im thungah toksakhaih, longhmanawk, imkhaannawk, ciimcai hmuennawk pasaehhaih, Sithaw imthung ah toksak naah, Aaron ih caanawk abomhaih loe Levi acaengnawk mah sak han koi tok ah oh:
28Chức của chúng là ở bên con cháu A-rôn, đặng làm công việc của đền Đức Giê-hô-va, canh giữ hành lang và các phòng, giữ tinh sạch các vật thánh, và coi làm công việc của đền Đức Chúa Trời:
29caboi pongah patoem ih takaw, buh hoi angbawnhaih sak hanah takawdip, taeh thuh ai ih takaw, camphaek laom pongah paaem ih takaw, situi hoiah haek ih takaw, kazit tahhaih hoi kalen kasawk tahhaih hmuennawk sahkung ah a oh o.
29lại lo về bánh trần thiết, về bột mịn dùng làm của lễ chay, về bánh tráng không men, về đồ nướng trên vỉ, về đồ trộn với dầu, và về các đồ để lường và để đo;
30Akhawnbang kruek angdoet o moe, Angraeng khaeah anghoehaih lok to a thuih o; duembangah doeh to tiah a sak o.
30mỗi buổi sớm và buổi chiều, họ phải đứng tại đó cảm tạ và ngợi khen Đức Giê-hô-va;
31Angraeng mah paek ih lok baktih toengah, Sabbath ni, khrah kangtha ni, poih sakhaih ni kruek, apet ai ah Angraeng hmaa ah hmai angbawnhaih boih to sah o tih.
31còn mỗi ngày sa-bát, ngày mồng một, và ngày lễ trọng thể, thì phải giúp dâng luôn luôn tại trước mặt Đức Giê-hô-va những của lễ thiêu thường dâng cho Đức Giê-hô-va theo lệ đã định trong luật về của lễ ấy;
32Levi acaengnawk mah kaminawk amkhuenghaih kahni im, hmuenciim hoi Angraeng im thungah toksah angmacae nawkamya Aaron ih caanawk to khetzawn o.
32chúng cũng lo coi sóc hội mạc và nơi thánh, cùng giúp đỡ con cháu A-rôn, là anh em mình, đặng hầu việc trong đền của Đức Giê-hô-va.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.