La-mã
Chapter 9
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Tôi nói thật trong Đấng Christ, tôi không nói dối, lương tâm tôi làm chứng cho tôi bởi Đức Thánh Linh:
1Kri ah loktang ni ka thuih, lok kam lai ai, Kacai Muithla ah kasae kahoih panoekhaih palungthin mah doeh kai hnukung ah oh,
2tôi buồn bực lắm, lòng tôi hằng đau đớn.
2palung ka set moe, boeng thai ai poek angphohaih ka tawnh.
3Bởi tôi ước ao có thể chính mình bị dứt bỏ, lìa khỏi Đấng Christ, vì anh em bà con tôi theo phần xác,
3Taksa ah kaimah ih acaengnawk hoi nawkamyanawk hanah, kaimah roe hae Kri khae hoiah tangoenghaih tongh han khoek to ka koeh:
4tức là dân Y-sơ-ra-ên, là dân được những sự làm con nuôi, sự vinh hiển, lời giao ước, luật pháp, sự thờ phượng và lời hứa;
4nihcae loe Israel kami ah oh o moe, pacah ih caa ah ohhaih, lensawkhaih, lokmaihaih, kaalok paekhaih, Sithaw toksakhaih hoi lokkamhaih hnu kami ah oh o;
5là dân sanh hạ bởi các tổ phụ, và theo phần xác, bởi dân ấy sanh ra Đấng Christ, là Đấng trên hết mọi sự, tức là Đức Chúa Trời đáng ngợi khen đời đời. A-men.
5nihcae loe aicae ampa ah oh o, taksa ah nihcae thung hoiah ni Kri to angzoh, Anih loe hmuennawk boih ukkung ah oh moe, dungzan tahamhoihaih Sithaw ah oh. Amen.
6Aáy chẳng phải lời Đức Chúa Trời là vô ích. Vì những kẻ bởi Y-sơ-ra-ên sanh hạ, chẳng phải vì đó mà hết thảy đều là người Y-sơ-ra-ên.
6Sithaw lok loe atho om ai, tiah thuih koehhaih ih na ai ni. Israel hoi tacawt kaminawk loe Israel kami boih na ai ni:
7cũng không phải vì là dòng dõi của Aùp-ra-ham thì hết thảy đều là con cái người; nhưng có chép rằng: Aáy là bởi Y-sác mà ngươi sẽ có một dòng dõi gọi theo tên ngươi;
7Abraham ih atii ah oh o pongah, nihcae loe caa ah om o boih ai: toe Isak khae hoiah ni nang ih atii, tiah kawk o tih, tiah oh.
8nghĩa là chẳng phải con cái thuộc về xác thịt là con cái Đức Chúa Trời, nhưng con cái thuộc về lời hứa thì được kể là dòng dõi Aùp-ra-ham vậy.
8To pongah, taksa ah kaom caanawk loe Sithaw ih caa na ai ni: lokkamhaih hoiah kaom caanawk to ni atii, tiah kroek o.
9Vả, lời nầy thật là một lời hứa: Cũng k” nầy ta sẽ lại đến, Sa-ra sẽ có một con trai.
9Vaihi tue thuem phak naah, kang zoh han, to naah Sarah mah capa maeto sah tih, tiah lokkamhaih to oh.
10Nào những thế thôi, về phần Rê-be-ca, khi bà ấy bởi tổ phụ chúng ta là Y-sác mà có thai đôi cũng vậy.
10Hae khue ai; Rebekah doeh kami maeto, aicae ampa Isak ih caa to pom naah;
11Vì, khi hai con chưa sanh ra, chưa làm điều chi lành hay dữ-hầu cho được giữ vững ý chỉ Đức Chúa Trời, là ý định sẵn bởi sự kén chọn tự do của Ngài, chẳng cứ việc làm, nhưng cứ Đấng kêu gọi-
11(Sithaw mah qoih ih baktih toengah oh hanah, Sithaw khokkhanhaih loe toksakhaih hoiah om ai, kawkkung Anih koehhaih baktiah ni om tih, tiah a caa hnik tapen ai vop moe, a caa hnik mah kasae hmuen maw, to tih ai boeh loe kahoih hmuen maw sakhaih om ai naah,
12thì có lời phán cho mẹ của hai con rằng: Đứa lớn sẽ làm tôi đứa nhỏ;
12nongpata khaeah, Kacoeh mah kanawk ih tok to sah pae tih, tiah a thuih pae.
13như có chép rằng: Ta yêu Gia-cốp và ghét Ê-sau.
13Jakob to ka palung, Isau loe ka hnukma, tiah tarik ih oh.
14Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Có sự không công bình trong Đức Chúa Trời sao? Chẳng hề như vậy!
14To tiah nahaeloe kawbangmaw a tih o han boeh? Sithaw loe toeng ai, tiah a thuih o han maw? A thui o mak ai.
15Vì Ngài phán cùng Môi-se rằng: Ta sẽ làm ơn cho kẻ ta làm ơn, ta sẽ thương xót kẻ ta thương xót.
15Sithaw mah Mosi khaeah, Palungnat han koeh ih kami nuiah palung ka nat moe, palung han koeh ih kami to ka palung han, tiah thuih.
16Vậy điều đó chẳng phải bởi người nào ao ước hay người nào bôn ba mà được, bèn là bởi Đức Chúa Trời thương xót.
16To pongah kami mah koeh pongah na ai, toksah kami pongah doeh na ai, palungnathaih amtuengsak Sithaw pongah ni oh.
17Trong Kinh Thánh cũng có phán cùng Pha-ra-ôn rằng: Nầy là cớ vì sao ta đã dấy ngươi lên, ấy là để tỏ quyền phép ta ra trong ngươi, hầu cho danh ta được truyền ra khắp đất.
17Cabu mah Faro khaeah, Ka timhaih baktiah nang khaeah Ka thacakhaih kam tuengsak moe, Ka hmin long pum ah taphong han ih ni, kang qoengsak, tiah a naa.
18Như vậy, Ngài muốn thương xót ai thì thương xót, và muốn làm cứng lòng ai thì làm.
18To pongah, Anih loe a koeh ih kami nuiah palungnathaih tawnh moe, a koeh ih kami to palung thahsak.
19Vậy thì ngươi sẽ hỏi ta rằng: Sao Ngài còn quở trách? Vì có ai chống lại ý muốn Ngài được chăng?...
19To tih nahaeloe Anih koehhaih to mi mah maw pakaa thai ai to mah, tipongah Anih mah kami zaehaih to pakrong loe? tiah na thuih o han maw?
20Nhưng, hỡi người, ngươi là ai, mà dám cãi lại cùng Đức Chúa Trời? Có lẽ nào cái bình bằng đất sét lại nói với kẻ nắn nên mình rằng: Sao ngươi đã làm nên ta như vậy?
20Na thui o mak ai, toe, Aw kami, Sithaw lok aek nang loe mi aa? A sak ih hmuen mah Sahkung khaeah, Tipongah hae tiah nang sak loe, tiah naa thai tih maw?
21Người thợ gốm há chẳng có quyền trên đất sét, cùng trong một đống mà làm ra hạng bình để dùng việc sang trọng, lại hạng khác để dùng việc hèn hạ sao?
21Laom sah kami loe amlai long tawnkung ah oh pongah, kanghmong amlai long hoiah na ai maw kahoih laom hoi kasae laom to a sak?
22Nếu Đức Chúa Trời muốn tỏ ra cơn thạnh nộ và làm cho biết quyền phép Ngài, đã lấy lòng khoan nhẫn lớn chịu những bình đáng giận sẵn cho sự hư mất,
22Sithaw mah angmah ih palungphuihaih to amtuengsak moe, a sakthaihaih panoeksak han koeh pongah, paro hanah sak ih palungphuihaih kaomsak laomnawk nuiah palungsawkhaih tawn nahaeloe timaw thuih han oh vop,
23để cũng làm cho biết sự giàu có của vinh hiển Ngài bởi những bình đáng thương xót mà Ngài đã định sẵn cho sự vinh hiển, thì còn nói chi được ư?
23anih mah kating ai a lensawkhaih to pakoeh han sak coek ih, tahmenhaih laomnawk nuiah amtuengsak,
24Đó tôi nói về chúng ta, là kẻ Ngài đã gọi, chẳng những từ trong người Giu-đa, mà cũng từ trong dân ngoại nữa.
24Judahnawk khae khue ai, Gentelnawk hoi anih mah kawk ih aicae khaeah doeh amtuengsak,
25Như Ngài phán trong sách Ô-sê rằng: Ta sẽ gọi kẻ chẳng phải dân ta là dân ta, Kẻ chẳng được yêu dấu là yêu dấu;
25Hosea Cabu thungah, Kai ih kami ah kaom ai kaminawk to Kai ih kami, tiah Ka kawk han; palung ai ih kami to kang palung, tiah Ka naa han.
26Lại xảy ra trong nơi Ngài phán cùng họ rằng: Các ngươi chẳng phải là dân ta đâu, Cũng tại nơi đó họ sẽ được xưng là con của Đức Chúa Trời hằng sống.
26Nihcae khaeah, Nangcae loe Kai ih kami na ai ni, tiah thuih ih ahmuen ah kaom kaminawk to kahing Sithaw ih capanawk, tiah kawk tih, tiah thuih ih lok to oh.
27Còn Ê-sai nói về dân Y-sơ-ra-ên mà kêu lên rằng: Dầu số con cái Y-sơ-ra-ên như cát dưới biển, chỉ một phần sót lại sẽ được cứu mà thôi;
27Tahmaa Isaiah mah doeh Israel kawng pongah, Israel caanawk loe tuipui ih savuet zetto pop o langlacadoeh, kanghmat kaminawk ni pahlong ah om o tih:
28vì Chúa sẽ làm ứng nghiệm lời Ngài cách trọn vẹn và vội vàng trên đất.
28anih mah toenghaih hoiah toksak pacoeng hanah, lok takroek tih; Angraeng mah long ah sak han atimhaih to sah palang tih, tiah thuih.
29Lại như Ê-sai đã nói tiên tri rằng: Nếu Chúa vạn quân chẳng để lại một cái mầm của dòng giống chúng ta, Thì chúng ta đã trở nên như thành Sô-đôm và giống như thành Gô-mô-rơ vậy.
29Tahmaa Isaiah mah loe, Sabaoth Angraeng mah aicae ih atii paquem ai nahaeloe, aicae loe Sodom baktiah a om o ueloe, Gomorrah hoiah anghmong tih boeh, tiah thuih coek boeh.
30Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Những dân ngoại chẳng tìm sự công bình, thì đã được sự công bình, nhưng là sự công bình đến bởi đức tin;
30To tih nahaeloe kawbangmaw a tih o han boeh? Toenghaih pazui ai Gentelnawk loe, tanghaih rang hoiah kaom, toenghaih to hnuk o boeh.
31còn như dân Y-sơ-ra-ên tìm luật pháp của sự công bình, thì không đạt đến luật pháp ấy.
31Toe kaalok rang hoiah kaom toenghaih pazui, Israelnawk loe, kaalok rang hoiah kaom toenghaih to hnu o ai.
32Tại sao? Tại họ chẳng bởi đức tin mà tìm, nhưng bởi việc làm. Họ đã vấp phải hòn đá ngăn trở,
32Tipongah hnu o ai loe? Nihcae loe amthaekhaih thlung pongah amtimh o pongah, tanghaih hoiah pakrong o ai, kaalok mah thuih ih baktih toengah toksakhaih rang hoiah pakrong o lat pongah ni hnu o ai.
33như có chép rằng: Nầy ta để tại Si-ôn một hòn đá ngăn trở, tức là hòn đá lớn làm cho vấp ngã; Hễ ai tin đến thì khỏi bị hổ thẹn.
33Cabu thungah, Khenah, Zion ah amthaekhaih thlung hoi amtimhaih thlung to ka suek: mi kawbaktih doeh Anih tang kami loe azathaih tongh mak ai, tiah tarik ih oh.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.