La-mã
Chapter 15
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Vậy chúng ta là kẻ mạnh, phải gánh vác sự yếu đuối cho những kẻ kém sức, chớ làm cho đẹp lòng mình.
1Tha kacak aicae loe aimacae koehhaih to pazui ai ah, tanghaih bangah thahnaem kaminawk to abomh han angaih.
2Mỗi người trong chúng ta nên làm đẹp lòng kẻ lân cận mình, đặng làm điều ích và nên gương tốt.
2A imtaeng kami to hoihhaih bangah qoengsak hanah, anih koehhaih to paroi pae o si.
3Vì Đấng Christ cũng không làm cho đẹp lòng mình, như có chép rằng: Lời của những kẻ nguyền rủa Chúa đã đổ trên mình tôi.
3Kri mah mataeng doeh Angmah koehhaih to sah ai; Nang kasae thui kaminawk ih lok loe ka nuiah krak boeh, tiah tarik ih oh.
4Vả, mọi sự đã chép từ xưa đều để dạy dỗ chúng ta, hầu cho bởi sự nhịn nhục và sự yên ủi của Kinh Thánh dạy mà chúng ta được sự trông cậy.
4Cabu thungah kaom palungsawkhaih hoi pathloephaih rang hoiah oephaih a tawnh o thai hanah, canghnii ah tarik ih hmuennawk boih loe aicae amtukhaih han ih ni tarik.
5Xin Đức Chúa Trời hay nhịn nhục và yên ủi ban cho anh em được đồng lòng ở với nhau theo Đức Chúa Jêsus Christ;
5Kri Jesu koehhaih baktiah, palungsawkhaih, pathloephaih hoiah kakoi Sithaw mah maeto hoi maeto poek anghmonghaih to nangcae khaeah paek nasoe:
6để anh em lấy một lòng một miệng mà ngợi khen Đức Chúa Trời, là Cha của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta.
6to tiah ni aicae Angraeng Jesu Kri ih Ampa, Sithaw to poekhaih maeto, pahni palai maeto hoiah na pakoeh o thai tih.
7Vậy thì, anh em hãy tiếp lấy nhau, cũng như Đấng Christ đã tiếp anh em, để Đức Chúa Trời được vinh hiển.
7To pongah Kri mah Sithaw lensawkhaih ah ang talawk o baktih toengah, nangcae doeh maeto hoi maeto talawk o toeng ah.
8Vả, tôi nói rằng Đức Chúa Jêsus Christ đã làm chức vụ mình nơi người chịu cắt bì, đặng tỏ bày sự thành tín của Đức Chúa Trời, và làm quả quyết lời hứa cùng các tổ phụ chúng ta,
8Jesu Kri loe ampanawk khaeah sak ih loktang Sithaw lokkamhaih to caksak hanah, tangyat hin aat kaminawk ih toksahkung ah oh, tiah ka thuih;
9lại khiến dân ngoại khen ngợi Đức Chúa Trời vì sự thương xót của Ngài, như có chép rằng: Bởi đó tôi sẽ ngợi khen Chúa giữa các dân ngoại, Và ca tụng danh Ngài.
9Anih ih palungnathaih rang hoiah ni Gentelnawk mah Sithaw to pakoeh o thai tih, Hae pongah Gentelnawk salakah nang to kang pakoeh han, na hmin pakoehhaih laa ka sak han, tiah tarik ih oh.
10Lại có chép rằng: Hỡi dân ngoại, hãy đồng vui cùng dân Chúa.
10To pacoengah, Nangcae Gentelnawk, Anih ih kaminawk hoi nawnto anghoe oh, tiah a thuih let.
11Lại rằng: Hỡi hết thảy dân ngoại, Hãy khen ngợi Chúa, muôn dân nên ngợi khen Ngài!
11To pacoengah, Nangcae Gentelnawk boih, Angraeng to pakoeh oh; nangcae acaeng kaminawk boih Anih pakoehhaih laa to sah oh, tiah a thuih let.
12Ê-sai cũng nói rằng: Từ cội rễ Gie-sê Sẽ nứt lên cái chồi cai trị dân ngoại, Dân ngoại sẽ trông cậy chồi ấy.
12To pacoengah, Isaiah mah doeh, Gentelnawk uk boih hanah, Jesse ih tangzun hoi tacawt Kami to angzo tih; Gentelnawk mah Anih nuiah oephaih tawn o tih, tiah thuih.
13Vậy xin Đức Chúa Trời của sự trông cậy, làm cho anh em đầy dẫy mọi điều vui vẻ và mọi điều bình an trong đức tin, hầu cho anh em nhờ quyền phép Đức Thánh Linh được dư dật sự trông cậy!
13Kacai Muithla thacakhaih rang hoiah kapop aep anghoehaih na tawnh o thai hanah, tanghaih na tawnh o pongah oephaih paekkung Sithaw mah, anghoehaih hoi monghaih hoiah na koi o sak nasoe.
14Hỡi anh em, về phần anh em, tôi cũng tin chắc rằng anh em có đầy lòng nhân từ, đủ điều thông biết trọn vẹn, lại có tài khuyên bảo nhau.
14Nawkamyanawk, nangcae loe hoihhaih hoiah na koi o, palunghahaih hoiah na koep o moe, maeto hoi maeto thuitaekhaih na tawnh o, tito ka panoek.
15Nếu tôi đã lấy lòng thật dạn dĩ mà viết thơ nói điều nầy điều kia với anh em, ấy là để nhắc lại cho anh em nhớ, bởi ơn Đức Chúa Trời đã làm cho tôi
15Toe Sithaw mah kai khaeah tahmenhaih paek baktih toengah, nangcae panoeksak let han ka koeh pongah, misa hoihhaih hoiah ca kang tarik o.
16nên chức việc của Đức Chúa Jêsus Christ giữa dân ngoại, làm chức tế lễ của Tin Lành Đức Chúa Trời, hầu cho dân ngoại được làm của lễ vừa ý Chúa, và nên thánh bởi Đức Thánh Linh.
16Gentelnawk khaeah Jesu Kri toksahkung ah ka oh baktih toengah, kahoih Sithaw ih tamthanglok to ka taphong. To tiah ni Gentelnawk mah paek ih hmuennawk to Kacai Muithla mah ciimcaisak ueloe, talawk pae thai tih.
17Vậy tôi có cớ khoe mình trong Đức Chúa Jêsus Christ về điều hầu việc Đức Chúa Trời.
17To pongah Sithaw toksakhaih bangah loe Kri Jesu ah amoek thaihaih to ka tawnh.
18Vì tôi chẳng dám nói những sự khác hơn sự mà Đấng Christ cậy tôi làm ra để khiến dân ngoại vâng phục Ngài, bởi lời nói và bởi việc làm,
18Kri mah kai patohhaih rang hoiah toksakhaih om ai nahaeloe, lokthuihhaih hoi toksakhaih rang hoiah Gentelnawk lok tahngaisak hanah, to loknawk to ka thui rumram thai mak ai,
19bởi quyền phép của dấu k” phép lạ, bởi quyền phép của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Aáy là từ thành Giê-ru-sa-lem và các miền xung quanh cho đến xứ I-ly-ri, tôi đã đem đạo Tin Lành của Đấng Christ đi khắp chốn.
19Sithaw Muithla thacakhaih rang hoiah, thacak angmathaih hoi dawnrai hmuennawk to ka sak; Jerusalem hoiah Illyricum khoek to kahoih Kri tamthanglok to ka taphong boeh.
20Nhưng tôi lấy làm vinh mà rao Tin Lành ở nơi nào danh Đấng Christ chưa được truyền ra, để cho khỏi lập lên trên nền người khác,
20Ue, kai loe Kri tamthanglok thaih ai kaminawk khaeah tamthanglok taphong han ih ni kam sak; to tih ai nahaeloe kalah kami mah sak tangcae ih ahmuen ah imsah kami ah ka om moeng tih.
21như có chép rằng: Những kẻ chưa được tin báo về Ngài thì sẽ thấy Ngài, Những kẻ chưa nghe nói về Ngài thì sẽ biết Ngài.
21Anih kawng thuih ai ih kaminawk mah, Anih to hnu o tih; kathaih vai ai kaminawk mah thaikophaih to tawn o tih, tiah tarik ih oh.
22Aáy cũng là điều đã nhiều lần ngăn trở tôi đi đến thăm anh em.
22To tiah oh pongah nangcae khaeah kang zo thai ai.
23Nhưng bây giờ chẳng còn có chi cầm buộc tôi lại trong các miền nầy nữa; vả lại, đã mấy năm nay, tôi rất ước ao đến cùng anh em;
23Toe vaihi loe hae prae ah toksak han om ai boeh, saning paroeai thung nangcae khae angzoh han koehhaih ka tawnh pongah,
24vậy nếu tôi có thể đi xứ Y-pha-nho được, thì mong rằng sẽ tiện đường ghé thăm anh em; sau khi được chút thỏa lòng ở với anh em rồi, thì nhờ anh em sai đưa tôi qua xứ ấy.
24Spain prae ah ka caeh naah loe, nangcae khaeah kang zoh han: kholong ka caehhaih pangah, nangcae hoi nawnto angkom hmaloe han, to pacoengah, kholong ka caehhaih loklam ah kai nang thak o tih, tiah tiah oephaih ka tawnh.
25Nay tôi qua thành Giê-ru-sa-lem đặng giúp việc các thánh đồ.
25Toe vaihi loe Jerusalem ah kaom kaciim kaminawk abom hanah ka caeh vop.
26Vì người xứ Ma-xê-đoan và xứ A-chai vui lòng quyên tiền để giúp những thánh đồ ở thành Giê-ru-sa-lem đang nghèo túng.
26Macedonia hoi Akaia ih kaminawk mah Jerusalem ah kaom amtang kaciim kaminawk hanah amlunghaih hoiah hmuenmae a paek o.
27Họ vui lòng làm sự đó, và cũng mắc nợ các người đó nữa; vì nếu người ngoại đã có phần về của cải thiêng liêng người Giu-đa, thì cũng phải lấy của cải thuộc về phần đời mà giúp cho người Giu-đa.
27Nihcae loe to baktih abomhaih tok sak han koeh o; nihcae mah Judahnawk hanah hmuenmae hoi abomhaih loe laiba pathok baktiah ni oh. Judahnawk mah angmacae Muithla tahamhoihaih to Gentelnawk han pazet o baktih toengah, Gentelnawk mah doeh angmacae taksa tahamhoihaih to Judahnawk han paek o toeng han oh.
28Vậy khi tôi làm xong việc ấy, và giao quả phước nầy cho họ rồi, tôi sẽ ghé nơi anh em đặng đi đến xứ Y-pha-nho.
28To pongah, hae tok ka sak moe, abom ih hae hmuenmae hae nihcae khaeah ka paek pacoengah loe, Spain prae caehhaih pangah, nangcae khaeah kang zoh han.
29Tôi biết khi tôi sang với anh em, thì sẽ đem ơn phước dồi dào của Đấng Christ cùng đến.
29Nangcae khae kang zoh naah, kahoih Kri tamthanglok ah kaom kakoi tahamhoihhaih hoiah ni kang zoh han, tiah ka panoek.
30Vậy, hỡi anh em, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, và nhờ sự yêu thương sanh bởi Đức Thánh Linh, tôi khuyên anh em phải cùng tôi chiến đấu trong những lời cầu nguyện mà anh em vì tôi trình cùng Đức Chúa Trời,
30Nawkamyanawk, Angraeng Jesu Kri hoi Muithla amlunghaih rang hoiah, nawnto lawk a thuih o moe, Sithaw khaeah lawk nang thuih pae o hanah kang pacae o;
31hầu để tôi được thoát khỏi những người chẳng tin trong xứ Giu-đê, và của làm phước mà tôi đem qua thành Giê-ru-sa-lem sẽ được các thánh đồ vui lòng nhậm lấy.
31katang ai Judea prae kaminawk ban thung hoiah ka loih thaih moe, Jerusalem ah kaom kaciim kaminawk mah ka tok sakhaih talawk o thai hanah;
32Bấy giờ tôi có thể vui mừng đi đến anh em, và nếu vừa ý Đức Chúa Trời, cũng nếm mùi an nghỉ với anh em nữa.
32Sithaw koehhaih baktiah anghoehaih hoiah nangcae khaeah kang zoh moe, nangcae hoi nawnto poekhaih kangtha hoi khosak thai hanah lawkthui oh.
33Nguyền xin Đức Chúa Trời bình an ở với anh em hết thảy! A-men.
33Sithaw monghaih nangcae boih hoi nawnto om nasoe. Amen.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.