La-mã
Chapter 4
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Vậy, chúng ta sẽ nói Aùp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, theo xác thịt đã được ích gì?
1To tih nahaeloe hae hmuen pongah aicae ampa Abraham mah taksa ah tih atho maw hnuk?
2Thật thế, nếu Aùp-ra-ham đã được xưng công bình bởi việc làm, thì có cớ khoe mình; nhưng trước mặt Đức Chúa Trời không có như vậy.
2Abraham mah toksakhaih hoiah toenghaih hnu nahaeloe, anih amoek hanah hmuen maeto oh; toe Sithaw hmaa ah loe amoek thai mak ai.
3Vì Kinh Thánh có dạy chi? Aùp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và điều đó kể là công bình cho người.
3Cabu mah timaw thuih? Abraham mah Sithaw to tang pongah, to tanghaih to toenghaih ah tapom pae, tiah oh.
4Vả, đối với kẻ nào làm việc, thì tiền công không kể là ơn, nhưng kể như là nợ,
4Toksahkung mah a toksakhaih atho hnuk naah, tahmenhaih hoiah hnuk ih tangqum ah om ai, a hnuk han koi a tok sakhaih atho to ni a hnuk.
5còn kẻ chẳng làm việc chi hết, nhưng tin Đấng xưng người có tội là công bình, thì đức tin của kẻ ấy kể là công bình cho mình.
5Toe toksakhaih tawn ai kami loe Anih tanghaih tawn kami hanah toenghaih Paekkung to tang nahaeloe, a tanghaih rang hoiah katoeng kami ah oh.
6Aáy vậy, vua Đa-vít cũng tỏ ra cái phước của người mà Đức Chúa Trời kể cho là công bình chẳng bởi việc làm, mà rằng:
6To baktih toengah toksakhaih om ai ah, Sithaw mah paek ih toenghaih hnu kami ih tahamhoihaih to David mah,
7Phước thay cho kẻ, lỗi mình được tha thứ, Tội mình được che đậy!
7sakpazaehaihnawk tahmen pae moe, zaehaihnawk khuk pae ah kaom kaminawk loe tahamhoih o.
8Phước thay cho người mà Chúa chẳng kể tội lỗi cho!
8Angraeng zae nethaih thung hoi loih kami loe tahamhoih, tiah thuih.
9Vậy, lời luận về phước đó chỉ chuyên về kẻ chịu cắt bì mà thôi sao? Cũng cho kẻ không chịu cắt bì nữa. Vả, chúng ta nói rằng đức tin của Aùp-ra-ham được kể là công bình cho người.
9Abraham tanghaih loe toenghaih ah tapom pae, tiah a thuih o boeh. To tiah nahaeloe hae tahamhoihhaih loe tangyat hin aat kami han khue maw oh, tangyat hin aat ai kaminawk han doeh oh toeng maw?
10Nhưng được kể thế nào? Khi người đã chịu cắt bì rồi, hay là khi người chưa chịu cắt bì? Aáy không phải sau khi người chịu cắt bì, bèn là trước.
10Kawbangah oh naah maw to tiah tapom pae? Tangyat hin a aah pacoengah maw? To tih ai boeh loe aat ai na ah? Aah pacoengah na ai, aat ai na ah ni toenghaih to hnuk boeh.
11Vậy, người đã nhận lấy dấu cắt bì, như dấu ấn của sự công bình mà người đã được bởi đức tin, khi chưa chịu cắt bì; hầu cho làm cha hết thảy những kẻ tin mà không chịu cắt bì, đặng họ được kể là công bình,
11Anih loe tangyat hin aat o ai, toe to toenghaih to nihcae mah hnuk o toeng, tangcaanawk boih ih ampa ah a oh hanah, Abraham loe tangyat hin aat ai naah ni, tanghaih hoiah kaom toenghaih tacik tangyat hin aah angmathaih to hnuk boeh.
12và cũng làm cha những kẻ chịu cắt bì, tức là cha những kẻ không những chịu cắt bì thôi, lại cũng noi theo dấu đức tin mà Aùp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, đã có trước khi chưa chịu cắt bì vậy...
12Abraham loe tangyat hin aat kaminawk ih ampa khue na ai ni, tangyat hin aat ai naah Abraham tanghaih khokkong pazui kaminawk boih ih ampa ah doeh oh.
13Vả, ấy chẳng phải bởi luật pháp mà có lời hứa cho Aùp-ra-ham hoặc dòng dõi người lấy thế gian làm gia nghiệp, bèn là bởi sự công bình của đức tin.
13Abraham loe long qawktoepkung ah om tih, tiah lokkamhaih to oh: to lokkamhaih loe Abraham mah kaalok pazui pongah na ai ni, tanghaih rang hoiah kaom toenghaih hoiah ni oh.
14Vì, nếu bởi luật pháp mà được hưởng gia nghiệp, thì đức tin ra vô ích, lời hứa cũng bỏ rồi,
14Kaalok hoiah hing kaminawk mah qawk to toep o nahaeloe, tanghaih loe avanghaih tidoeh om mak ai ueloe, lokkamhaih doeh azom pui ah ni om tih boeh:
15vì luật pháp sanh ra sự giận; song đâu không có luật pháp, thì đó cũng không có sự phạm luật pháp.
15Kaalok mah palungphuihaih to ohsak: kaalok om ai ahmuen ah loe zaehaih doeh om ai.
16Vậy nên, bởi đức tin mà người ta trở nên kẻ ăn gia tài, hầu cho sự ấy được bởi ân điển, và cho lời hứa được chắc chắn cho cả dòng dõi Aùp-ra-ham, chẳng những cho dòng dõi dưới quyền luật pháp, mà cũng cho dòng dõi có đức tin của Aùp-ra-ham, là tổ phụ hết thảy chúng ta,
16Abraham ih caanawk boih khaeah tahmenhaih rang hoiah kaom lokkamhaih to caaksak hanah, tanghaih loe lokpui koekah oh; lokkamhaih loe kaalok thungah kaom kaminawk han khue na ai ni, kaminawk boih ih ampa ah kaom, Abraham tanghaih tawn kaminawk boih khaeah doeh om tih,
17y như lời chép rằng: Ta đã lập ngươi làm cha nhiều dân tộc, thật người là cha chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời, tức là Đấng người đã tin, là Đấng ban sự sống cho kẻ chết, gọi những sự không có như có rồi.
17Abraham loe kadueh kaminawk hinghaih paekkung, kaom ai hmuennawk omsakkung hoi a tang ih Sithaw hmaa ah, (Nang loe acaeng kaminawk boih ih ampa ah kang sak boeh,) tiah tarik ih lok to oh.
18Người cậy trông khi chẳng còn lẽ trông cậy, cứ tin, và trở nên cha của nhiều dân tộc, theo lời đã phán cho người rằng: Dòng dõi ngươi sẽ như thể ấy.
18Na caanawk loe to tiah om o nasoe, tiah anih khaeah thuih ih lok baktih toengah, Abraham mah kai loe acaengnawk ih ampa ah ka om tih, tiah oephaih to tawn ai, toe tanghaih rang hoiah oephaih a tawnh pongah ni, anih loe acaengnawk boih ih ampa ah oh.
19Người thấy thân thể mình hao mòn, vì đã gần đầy trăm tuổi, và thấy Sa-ra không thể sanh đẻ được nữa, song đức tin chẳng kém.
19Abraham loe (saning cumvaito thuemtham oh boeh,) Sarah doeh caa kak, toe tanghaih thazok ai, kadueh baktiah kaom a takpum doeh poek khing ai.
20Người chẳng có lưỡng lự hoặc hồ nghi về lời hứa Đức Chúa Trời, nhưng càng mạnh mẽ trong đức tin, và ngợi khen Đức Chúa Trời,
20Anih loe Sithaw lokkamhaih nuiah palunghaenghaih tawn ai, tanghaih bangah thacak moe, Sithaw to pakoeh;
21vì tin chắc rằng điều chi Đức Chúa Trời đã hứa, Ngài cũng có quyền làm trọn được.
21lokkamhaih sah Sithaw loe lokkam ih baktiah sak thaih, tiah kacaak tanghaih to a tawnh.
22Cho nên đức tin của người được kể cho là công bình.
22To pongah, anih to kami katoeng ah tapom.
23Vả, ấy chẳng phải chỉ vì một mình người mà có chép rằng đức tin người đã được kể cho là công bình,
23Anih to katoeng kami ah tapom, tiah tarik ih lok loe anih han khue tarik ai;
24nhưng cũng vì chúng ta nữa, đức tin sẽ được kể là công bình cho chúng ta, là kẻ tin Đấng đã làm cho Đức Chúa Jêsus, Chúa chúng ta, sống lại từ trong kẻ chết,
24aicae han doeh tarik ah oh toeng, aicae Angraeng Jesu duekhaih thung hoi pathawkkung Anih to a tang o nahaeloe, to tiah tanghaih to aicae toenghaih ah tapom pae toeng tih;
25Ngài đã bị nộp vì tội lỗi chúng ta, và sống lại vì sự xưng công bình của chúng ta.
25Jesu loe aicae zaehaih pongah duek hanah angpaek moe, aicae toenghaih hnuk hanah duekhaih thung hoi angthawk let boeh.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.