La-mã 16
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Tôi gởi gắm Phê-bê, người chị em chúng ta cho anh em, người làm nữ chấp sự của Hội thánh Xen-cơ-rê.
1Cenkhrae vangpui ih kricaabu thungah tamna ah kaom, aicae tanuh Phoebe pakoehhaih lok kang thuih o;
2Hãy ân cần tiếp rước người trong Chúa chúng ta, một cách xứng đáng với thánh đồ, và hãy giúp đỡ người trong mọi dịp mà người sẽ cần đến anh em; vì chính người đã giúp nhiều kẻ, và cũng giúp tôi nữa.
2nangcae mah anih to Angraeng ah kaciim kami ah talawk oh loe, nangcae khaeah angtoenghaih tawn nahaeloe, anih to abom oh: anih loe paroeai kaminawk hoi kai bomkung ah oh.
3Hãy chào Bê-rít-sin và A-qui-la, kẻ cùng làm việc với tôi trong Đức Chúa Jêsus Christ,
3Kri Jesu ah kai hoi tok nawnto sah kami, Priscilla hoi Aquila khaeah kawnhaih lok thui oh:
4là hai người liều chết để cứu sự sống tôi; ấy chẳng những một mình tôi tạ ơn hai người, nhưng cả các Hội thánh của dân ngoại nữa.
4nihnik loe kai ka hing thai hanah, tahnong takroek han khoek to angpaek kami ah oh hoi: kai khue mah na ai, Gentel kricaanawk boih mah doeh nihnik nuiah kating ai kawnhaih tawnh o.
5Cũng hãy chào Hội thánh nhóm tại nhà hai người. Hãy chào Ê-bai-nết, là người rất thiết với tôi, và đã nên trái đầu mùa trong xứ A-si cho Đấng Christ.
5Nihnik im ah amkhueng kricaanawk khaeah doeh kawnhaih lok to thui oh. Kam pui Epeneta khaeah doeh kawnhaih lok to thui oh, anih loe Asia prae thungah Kri ah thingthai athai tangsuek ah oh.
6Hãy chào Ma-ri, là người có nhiều công khó vì anh em.
6Aicae han tha pathokhaih hoiah tok sah, Meri khaeah kawnhaih lok thui oh.
7Hãy chào An-trô-ni-cơ và Giu-ni-a, tức là bà con và bạn đồng tù với tôi, là hai người có danh vọng trong các sứ đồ và thuộc về Đấng Christ trước tôi vậy.
7Kai hoi nawnto thongkrah ampui, kaimah ih canawk ah doeh kaom Andronika hoi Junia hnik khaeah kawnhaih lok to thui oh, nihnik loe patoeh ih kaminawk salakah panoek ih kami ah a oh hoi moe, kai om ai naah Kri ah a oh hoi boeh.
8Hãy chào Am-li-a, người rất yêu dấu của tôi trong Chúa.
8Angraeng ah ka palung ih Amplia khaeah kawnhaih lok thui oh.
9Hãy chào U-rơ-banh, bạn cùng làm việc với tôi trong Đấng Christ, và Eâch-ta-chy, là kẻ rất thiết với tôi.
9Kri ah aicae bomkung Urbana hoi ka palung ih Stachy khaeah kawnhaih lok to thui oh.
10Hãy chào A-be-lơ, người được tiếp nạp trong Đấng Christ. Hãy chào các người ở nhà A-rích-tô-bu.
10Kri hnukah bang tangtang, Apelle hoi Aristobula imthung takohnawk khaeah kawnhaih lok to thui oh.
11Hãy chào Hê-rô-đi-ôn, là bà con tôi. Hãy chào các người ở nhà Nạt-xít, là những kẻ ở trong Chúa.
11Kaimah ih canawk ah kaom Herodion khaeah kawnhaih lok to thui oh. Angraeng ah kaom Narcissa imthung takohnawk khaeah kawnhaih lok to thui oh.
12Hãy chào Try-phe-nơ và Try-phô-sơ, là hai người làm việc cho Chúa. Hãy chào Bẹt-si-đơ, người rất thân với tôi, và đã làm việc nhiều cho Chúa.
12Angraeng ah toksak tha pathok nongpata hnik, Tryphena hoi Tryphosa khaeah kawnhaih lok to thui oh. Angraeng ah paroeai toksak tha pathok palung ih nongpata Persi khaeah kawnhaih lok to thui oh.
13Hãy chào Ru-phu, người được chọn của Chúa, và chào mẹ người, cũng là mẹ tôi.
13Angraeng ah qoih ih kami Rufu hoi anih ih amno, kai ih amno ah doeh oh, anih khaeah kawnhaih lok to thui oh.
14Hãy chào A-sin-cơ-rích, Phơ-lê-gôn, Hẹt-me, Ba-trô-ba, Hẹt-ma, và các anh em ở với họ.
14Asyncrita, Phlegon, Hermes, Patrobas, Herma hoi nawnto kaom nawkamyanawk khaeah kawnhaih lok to thui oh.
15Hãy chào Phi-lô-lô-gơ và Giu-li, Nê-rê và chị người, Ô-lim, và hết thảy các thánh đồ ở với họ.
15Philologu, Julia, Nereu hoi a tanuh, Olympa hoi toah kaom kaciim kaminawk boih khaeah kawnhaih lok to thui oh.
16Anh em hãy lấy cái hôn thánh mà chào nhau. Hết thảy các Hội thánh của Đấng Christ chào anh em.
16Maeto hoi maeto kaciim mokhaih hoiah kawnhaih lok to thui oh. Kricaabunawk mah nangcae han kawnhaih lok ang thuih pae o.
17Hỡi anh em, tôi khuyên anh em coi chừng những kẻ gây nên bè đảng và làm gương xấu, nghịch cùng sự dạy dỗ mà anh em đã nhận. Phải tránh xa họ đi.
17Nawkamyanawk, nam tuk o ih loklam hoiah amkhraeng, ampraekhaih hoi lok angaekhaih tacawtsak thaih kaminawk to panoek oh loe, nihcae to ayae hanah kang pacae o.
18Vì những kẻ đó chẳng hầu việc Đấng Christ, Chúa chúng ta, song hầu việc cái bụng họ, và lấy những lời ngọt ngào dua nịnh dỗ dành lòng kẻ thật thà.
18Nihcae loe aicae Angraeng Jesu Kri ih tok to sah o ai, angmacae zok amhahhaih tok ni a sak o; lok kahoih a thuih o moe, lokthuih kophaih hoiah kahoih poekhaih tawn kaminawk to aling o.
19Sự anh em vâng phục thì ai ai cũng biết rồi, vậy tôi vì anh em vui mừng, mong rằng anh em khôn ngoan về điều lành, và thanh sạch đối với điều dữ.
19Nangcae lok tahngaihaih loe kaminawk boih khaeah phak boeh. To pongah nangcae zuengah kating ai kawnhaih ka tawnh: toe kahoih hmuen pongah palunghahaih na tawnh o moe, kahoih ai hmuen bangah zaehaih panoek ai kami ah na oh o hanah kang koeh o haih.
20Đức Chúa Trời bình an sẽ kíp giày đạp quỉ Sa-tan dưới chân anh em. Nguyền xin ân điển của Đức Chúa Jêsus chúng ta ở cùng anh em!
20Angdaehhaih Sithaw mah akra ai ah Setan to nangcae khok tlim ah atii tih boeh. Aicae Angraeng Jesu Kri tahmenhaih nangcae khaeah om nasoe. Amen.
21Ti-mô-thê, kẻ cùng làm việc với tôi chào anh em, Lu-si-út, Gia-sôn và Sô-xi-ba-tê, là bà con tôi cũng vậy.
21Tok nawnto ka sak haih ampui Timote, kaimah ih kami ah kaom Lucia, Jason hoi Sosipata mah doeh kawnhaih lok ang thuih o.
22Tôi là Tẹt-tiu, người chép bức thơ nầy, chào thăm anh em trong Chúa.
22Hae ca tarik kami kai, Tertia mah doeh Angraeng ah kawnhaih lok kang thuih o.
23Gai-út là người tiếp đãi tôi cùng tiếp đãi cả Hội thánh, chào anh em.
23Kai hoi haeah kaom kricaa khenzawnkung, caaknaek pacahkung Kaia mah doeh kawnhaih lok ang thuih o. Vangpui ih hmuenmae pakuemkung Erasta hoi nangcae ih amnawk, Quarta mah doeh kawnhaih lok ang thuih o.
24Ê-rát, quan kho bạc thành phố, và Qua-rơ-tu, người anh em chúng ta, cũng chào anh em nữa.
24Aicae Angraeng Jesu Kri tahmenhaih nangcae boih khaeah om nasoe. Amen.
25Ngợi khen Đấng có quyền làm cho vững chí anh em theo Tin Lành của tôi và lời giảng Đức Chúa Jêsus Christ, theo sự tỏ ra về lẽ mầu nhiệm, là lẽ đã giấu kín từ mọi đời trước,
25Long oh tangsuek nathuem hoi tamquta ah suek ih kathuk hmuen amtuenghaih baktih, ka thuih ih kahoih tamthanglok hoi Jesu Kri ih tamthanglok taphonghaih baktih toengah, nangcae thacaksak thaih Anih mah,
26mà bây giờ được bày ra, và theo lịnh Đức Chúa Trời hằng sống, bởi các sách tiên tri, bày ra cho mọi dân đều biết, đặng đem họ đến sự vâng phục của đức tin, -
26dungzan kahing Sithaw lokpaekhaih baktih toengah, tahmaanawk ih Cabu rang hoiah a tang o moe, a lok tahngaih pae o hanah, prae kruek ih kaminawk khaeah vaihi amtuengsak boeh:
27nhân Đức Chúa Jêsus Christ, nguyền xin vinh hiển về nơi Đức Chúa Trời khôn ngoan có một, đời đời vô cùng! A-men.
27Jesu Kri rang hoiah palungha Sithaw khae khue ah, dungzan khoek to lensawkhaih om nasoe. Amen.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.