La-mã 7
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hỡi anh em (vì tôi nói với những kẻ biết luật pháp), vậy anh em há chẳng biết rằng luật pháp chỉ cai trị người ta khi còn sống hay sao?
1Nawkamyanawk, (kaalok panoek kaminawk khaeah ni lok ka thuih,) kami hing nathung khue ni kaalok mah kami to uk, tito na panoek o ai maw?
2Cho nên, đàn bà có chồng, hễ chồng còn sống bao lâu, thì luật pháp buộc phải theo chồng bấy lâu; nhưng nếu chồng chết, thì người vợ được thoát khỏi luật pháp đã buộc mình với chồng.
2Thuih rumram ah, sava tawn nongpata loe sava hing nathung daan lok mah taoengh; toe sava to dueh nahaeloe sava ih daan lok thung hoiah a loih boeh.
3Vậy nếu đang lúc chồng còn sống, mà vợ đi lấy người khác, thì phải bị kêu là đàn bà ngoại tình; nhưng nếu chồng chết, thì vợ được buông tha khỏi luật pháp, dầu lấy người khác cũng chẳng phải là đàn bà ngoại tình vậy.
3To pongah a sava hing nathung anih mah kalah nongpa hoi nawnto om nahaeloe, anih loe daan ai ah sava nuiah zaehaih sah kami, tiah thui o tih: toe sava to dueh boeh nahaeloe, anih mah kalah nongpa khaeah sava sah cadoeh, to daan thung hoiah a loih boeh pongah, anih loe daan lok aek kami hoi zaehaih sah kami ah om mak ai.
4Hỡi anh em ta, anh em cũng như vậy, bởi thân thể của Đấng Christ, anh em đã chết về luật pháp, đặng thuộc về người khác, tức là người đã từ kẻ chết sống lại, hầu cho chúng ta được kết quả cho Đức Chúa Trời.
4To pongah, nawkamyanawk, kalah kami hoi imthong na krak o moe, duekhaih thung hoi angthawk Anih khaeah Sithaw ah thingthai na thaih o thai hanah, nangcae doeh Kri takpum rang hoiah kaalok thungah na duek o boeh.
5Vì khi chúng ta còn sống theo xác thịt, thì các tình dục xấu xa bị luật pháp xui khiến, hành động trong chi thể chúng ta và kết quả cho sự chết.
5Aicae taksa ah a oh o naah, kaalok rang hoiah zae sak koehhaih palungthin mah, duekhaih thingthai athaih hanah, zaehaih mah aicae takpum thungah toksak.
6Nhưng bây giờ chúng ta đã chết về luật pháp, là điều bắt buộc mình, thì được buông tha khỏi luật pháp đặng hầu việc Đức Chúa Trời theo cách mới của Thánh Linh, chớ không theo cách cũ của văn tự.
6Toe aicae loe vaihi kangquem Ca thungah a om o ai boeh, lokpaek kangtha Muithla ah tok a sak o thai hanah, duek hanah aicae qui hoi taoeng, kaalok thung hoiah a loih o boeh.
7Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Luật pháp há là tội lỗi sao? Chẳng hề như vậy! Nhưng tôi chỉ bởi luật pháp mà biết tội lỗi; vì nếu luật pháp không nói: Ngươi chớ tham lam, thì tôi đã không biết sự tham lam.
7To tih nahaeloe kawbangmaw a tih o han boeh? Kaalok ah zaehaih oh maw? Zaehaih om ai. Toe kaalok rang hoiah ni, zaehaih to ka panoek: Kaalok mah khit hmah, tiah thui ai nahaeloe, khithaih loe timaw, tito ka panoek mak ai.
8Aáy là tội lỗi đã nhân dịp, bởi điều răn mà sanh ra mọi thứ ham muốn trong lòng tôi: vì không có luật pháp thì tội lỗi chết đi.
8Toe zaehaih mah kaalok nuiah atue kahoih to lak moe, ka nuiah congca khithaih hmuennawk to ohsak. Kaalok om ai ah loe zaehaih to duek.
9Ngày xưa tôi không có luật pháp mà tôi sống; nhưng khi điều răn đến, thì tội lỗi lại sống,
9Canghniah kai loe kaalok ai ah ka hing: toe kaalok angzoh naah, zaehaih angphong pongah, kai loe ka duek.
10còn tôi thì chết; vậy thì té ra điều răn vốn nên làm cho tôi sống, đã dắt tôi đến sự chết.
10Hinghaih paek han kaom kaalok mah, duekhaih ohsak, tito ka panoek.
11Vì tội lỗi đã nhân dịp, dùng điều răn dỗ dành tôi và nhân đó làm cho tôi chết.
11Zaehaih mah kaalok nuiah atue kahoih to lak moe, kai to ang ling; to kaalok mah kai ang hum.
12Aáy vậy, luật pháp là thánh, điều răn cũng là thánh, công bình và tốt lành.
12To pongah, kaalok loe ciimcai, lokpaekhaih doeh ciimcai, toeng moe hoih.
13Vậy thì điều lành trở làm cớ cho tôi chết sao? Chẳng hề như vậy! Nhưng ấy là tội lỗi đã làm cho tôi chết, hầu khi nó nhân điều lành làm chết tôi, tự bày ra nó là tội lỗi; đến nỗi tội lỗi nhân điều răn trở nên cực ác.
13To tih nahaeloe kahoih hmuen loe kai han duekhaih ah oh maw? Om ai. Toe zae to zae baktiah amtueng thaih moe, kaalok rang hoiah zae to zaesak aep hanah, kahoih hmuen patohhaih rang hoiah ka nuiah duekhaih to ohsak.
14Vả, chúng ta biết luật pháp là thiêng liêng; nhưng tôi là tánh xác thịt đã bị bán cho tội lỗi.
14Kaalok loe Muithla ih hmuen ni, tito a panoek o: toe taksa ah ka oh pongah, zae thungah zawh ih kami ah ka oh.
15Vì tôi không hiểu điều mình làm: tôi chẳng làm điều mình muốn, nhưng làm điều mình ghét.
15Ka sak ih hmuen to ka koeh ai: ka sak koeh ih hmuen to ka sah ai; ka hnukma ih hmuen to ka sak lat.
16Song nếu tôi làm điều mình chẳng muốn, thì bởi đó nhận biết luật pháp là tốt lành.
16To tiah ka sak koeh ai ih hmuen to ka sak naah, kaalok loe toeng, tiah ka tapom.
17Bấy giờ chẳng phải tôi làm điều đó nữa, nhưng ấy là tội lỗi ở trong tôi.
17Toe vaihi kahoih ai hmuen sah kami loe kai na ai boeh ni, kai thungah kaom zae mah ni sak.
18Vả, tôi biết điều lành chẳng ở trong tôi đâu, nghĩa là trong xác thịt tôi, bởi tôi có ý muốn làm điều lành, nhưng không có quyền làm trọn;
18Kai (ka taksa thungah,) thungah kahoih hmuen roe om ai, tito ka panoek: sak han ka koeh, toe kahoih hmuen sakhaih loklam to ka hnu ai.
19vì tôi không làm điều lành mình muốn, nhưng làm điều dữ mình không muốn.
19Sak ka koeh ih kahoih hmuen to ka sah ai: toe sak ka koeh ai ih kahoih ai hmuen to ni ka sak lat.
20Ví bằng tôi làm điều mình không muốn, ấy chẳng phải là tôi làm điều đó nữa, nhưng là tội lỗi ở trong tôi vậy.
20Sak koeh ai ih hmuen to vaihi ka sak vop nahaeloe, kai mah sak ih na ai boeh ni, kai thungah kaom zae mah ni sak.
21Vậy tôi thấy có luật nầy trong tôi: khi tôi muốn làm điều lành, thì điều dữ dính dấp theo tôi.
21Kahoih hmuen sak ka koeh naah, kahoih ai hmuen kai khaeah oh, tito ka panoek.
22Vì theo người bề trong, tôi vẫn lấy luật pháp Đức Chúa Trời làm đẹp lòng;
22Kai thungah kaom kami mah loe Sithaw ih kaalok to koeh:
23nhưng tôi cảm biết trong chi thể mình có một luật khác giao chiến với luật trong trí mình, bắt mình phải làm phu tù cho luật của tội lỗi, tức là luật ở trong chi thể tôi vậy.
23toe ka takpum ah kaom kalah kaalok mah, ka poekhaih thungah kaom kaalok to aek, to tiah ka takpum ah kaom hmuennawk mah, zae sakhaih kaalok ih misong ah ang laemh haih, tito ka hnuk.
24Khốn nạn cho tôi! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết nầy?
24Kai loe amtang amlai kami ah ni ka oh boeh! hae duekhaih takpum thung hoiah mi mah maw na loisak tih?
25Cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta! Như vậy, thì chính mình tôi lấy trí khôn phục luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng lấy xác thịt phục luật pháp của tội lỗi.
25Aicae Angraeng Jesu Kri rang hoiah, Sithaw khaeah kawnhaih lok ka thuih! to pongah ka poekhaih hoiah loe Sithaw ih kaalok baktiah tok ka sak, toe ka taksa hoiah loe zae sakhaih kaalok baktiah ni ka sak.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.