La-mã 7
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Hỡi anh em (vì tôi nói với những kẻ biết luật pháp), vậy anh em há chẳng biết rằng luật pháp chỉ cai trị người ta khi còn sống hay sao?
1A OLE anei i ike oukou, e na hoahanau, (no ka mea, ke olelo aku nei au i ka poe i ike i ke kanawai,) e kau ana ke kanawai maluna o ke kanaka i kona wa a pau e ola nei?
2Cho nên, đàn bà có chồng, hễ chồng còn sống bao lâu, thì luật pháp buộc phải theo chồng bấy lâu; nhưng nếu chồng chết, thì người vợ được thoát khỏi luật pháp đã buộc mình với chồng.
2No ka mea, o ka wahine mea kane, ua paa ia i kana kane ma ke kanawai, i kona wa a pau e ola ana kana kane; a make ke kane, ua kuuia oia mai ke kanawai aku o kana kane.
3Vậy nếu đang lúc chồng còn sống, mà vợ đi lấy người khác, thì phải bị kêu là đàn bà ngoại tình; nhưng nếu chồng chết, thì vợ được buông tha khỏi luật pháp, dầu lấy người khác cũng chẳng phải là đàn bà ngoại tình vậy.
3No ia hoi, e kapaia oia he wahine moe kolohe ke mare ia i ke kane hou i ka wa e ola ana kana kane; aka, ina i make ke kane, ua kuuia oia mai ke kanawai aku; aole ia he wahine moe kolohe ke mare ia i ke kane e.
4Hỡi anh em ta, anh em cũng như vậy, bởi thân thể của Đấng Christ, anh em đã chết về luật pháp, đặng thuộc về người khác, tức là người đã từ kẻ chết sống lại, hầu cho chúng ta được kết quả cho Đức Chúa Trời.
4Pela hoi oukou, e na hoahanau o'u, ua make oukou i ke kanawai, ma ke kino o Kristo, i mareia'i oukou i ka mea i hoala hou ia mai waena mai o ka poe make, i hoohua kakou i ka hua no ke Akua.
5Vì khi chúng ta còn sống theo xác thịt, thì các tình dục xấu xa bị luật pháp xui khiến, hành động trong chi thể chúng ta và kết quả cho sự chết.
5No ka mea, i ka wa i noho ai kakou ma ke kino, o ko kakou mau kuko hewa no ke kanawai, ua hooikaika maloko o ko kakou mau lala e hoohua mai i ka hua no ka make.
6Nhưng bây giờ chúng ta đã chết về luật pháp, là điều bắt buộc mình, thì được buông tha khỏi luật pháp đặng hầu việc Đức Chúa Trời theo cách mới của Thánh Linh, chớ không theo cách cũ của văn tự.
6Ano hoi ua kuuia kakou mai ke kanawai, ka mea i paa pio ai kakou, no ka mea, ua make kakou ia mea; i hookauwa hoi kakou me ka hou ana o ka uhane, aole ma ka mea kahiko o ke kanawai.
7Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Luật pháp há là tội lỗi sao? Chẳng hề như vậy! Nhưng tôi chỉ bởi luật pháp mà biết tội lỗi; vì nếu luật pháp không nói: Ngươi chớ tham lam, thì tôi đã không biết sự tham lam.
7Heaha hoi ka kakou e olelo nei? He hewa anei ke kanawai? Aole loa; aka, ma ke kanawai wale no i ike ai au i ka hewa; no ka mea, ina aole i papa mai ke kanawai, Mai kuko wale aku oe, ina aole au i ike i ke kuko ana.
8Aáy là tội lỗi đã nhân dịp, bởi điều răn mà sanh ra mọi thứ ham muốn trong lòng tôi: vì không có luật pháp thì tội lỗi chết đi.
8Aka, ma ke kauoha i loaa'i i ka hewa ka wa maopopo, hoala ae la ia i kela kuko wale i keia kuko wale iloko o'u. No ka mea, me ke kanawai ole, ua make ka hewa.
9Ngày xưa tôi không có luật pháp mà tôi sống; nhưng khi điều răn đến, thì tội lỗi lại sống,
9No ia hoi, ola no au mamua me ke kanawai ole, a hiki mai ke kauoha, ala ae la ka hewa, a make iho la au.
10còn tôi thì chết; vậy thì té ra điều răn vốn nên làm cho tôi sống, đã dắt tôi đến sự chết.
10Oia, o ke kauoha e ola'i, ua loaa ia'u he mea ia e make ai.
11Vì tội lỗi đã nhân dịp, dùng điều răn dỗ dành tôi và nhân đó làm cho tôi chết.
11No ka mea, loaa ae la i ka hewa ka wa maopopo ma ke kauoha, ua puni au ia ia a ua make au ia ia ma ia mea.
12Aáy vậy, luật pháp là thánh, điều răn cũng là thánh, công bình và tốt lành.
12Nolaila, ua hemolele ke kanawai, a ua hemolele hoi, ua pono, ua maikai ke kauoha.
13Vậy thì điều lành trở làm cớ cho tôi chết sao? Chẳng hề như vậy! Nhưng ấy là tội lỗi đã làm cho tôi chết, hầu khi nó nhân điều lành làm chết tôi, tự bày ra nó là tội lỗi; đến nỗi tội lỗi nhân điều răn trở nên cực ác.
13Ua lilo anei ka mea maikai i make no'u? Aole loa ia; aka, o ka hewa, i ikeia hoi ia ho hewa io, e hana ana i ka make iloko o'u ma ka mea maikai, i akaka ae la ma ke kauoha he mea lawehala loa ka hewa.
14Vả, chúng ta biết luật pháp là thiêng liêng; nhưng tôi là tánh xác thịt đã bị bán cho tội lỗi.
14No ka mea, ua ike no au ma ko ka uhane ke kanawai; aka, ma ko ke kino wau, ua kuaiia na ka hewa.
15Vì tôi không hiểu điều mình làm: tôi chẳng làm điều mình muốn, nhưng làm điều mình ghét.
15No ka mea, o ka mea a'u i hana'i, aole au e hoapono; no ka mea, aole ka mea a'u i makemake ai ka'u i hana'i, aka, hana no wau i ka mea a'u i hoowahawaha ai.
16Song nếu tôi làm điều mình chẳng muốn, thì bởi đó nhận biết luật pháp là tốt lành.
16Ina hoi e hana wau i ka mea a'u i makemake ole ai, ua ae aku au i ke kanawai, he pono.
17Bấy giờ chẳng phải tôi làm điều đó nữa, nhưng ấy là tội lỗi ở trong tôi.
17Ano hoi aole na'u ia i hana, aka, na ka hewa e noho ana iloko o'u.
18Vả, tôi biết điều lành chẳng ở trong tôi đâu, nghĩa là trong xác thịt tôi, bởi tôi có ý muốn làm điều lành, nhưng không có quyền làm trọn;
18No ka mea, ua ike au, aole e noho ana iloko o'u, oia hoi iloko o ko'u kino, kekahi mea maikai; no ka mea, o ka makemake eia no ia'u ia, aka, o ka hana i ka pono aole i loaa ia'u.
19vì tôi không làm điều lành mình muốn, nhưng làm điều dữ mình không muốn.
19No ka mea, aole au i hana i ka pono a'u i makemake ai; aka o ka hewa a'u i hoowahawaha ai, oia ka'u i hana'i.
20Ví bằng tôi làm điều mình không muốn, ấy chẳng phải là tôi làm điều đó nữa, nhưng là tội lỗi ở trong tôi vậy.
20A ina i hana au i ka mea a'u i makemake ole ai, aole na'u ia i hana, aka, na ka hewa no e noho ana iloko o'u.
21Vậy tôi thấy có luật nầy trong tôi: khi tôi muốn làm điều lành, thì điều dữ dính dấp theo tôi.
21Ua loaa hoi ia'u he kanawai no'u, i ko'u wa e makemake ai e hana pono, ua kokoke mai no ka hewa.
22Vì theo người bề trong, tôi vẫn lấy luật pháp Đức Chúa Trời làm đẹp lòng;
22No ka mea, ua oluolu no wau i ke kanawai o ke Akua, ma ke kanaka oloko;
23nhưng tôi cảm biết trong chi thể mình có một luật khác giao chiến với luật trong trí mình, bắt mình phải làm phu tù cho luật của tội lỗi, tức là luật ở trong chi thể tôi vậy.
23Aka, ua ike au i kekahi kanawai iloko o ko'u mau lala e hakaka ana me ke kanawai o ko'u manao, a e hoolilo ana ia'u i pio no ke kanawai o ka hewa iloko o ko'u mau lala.
24Khốn nạn cho tôi! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết nầy?
24Auwe hoi au ke kanaka poino! nawai au e hoopakele ae i ke kino nona keia make.
25Cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta! Như vậy, thì chính mình tôi lấy trí khôn phục luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng lấy xác thịt phục luật pháp của tội lỗi.
25Ke aloha aku nei au i ke Akua ma o Iesu Kristo la o ko kakou Haku. No ia hoi, owau nei la, ua malama wau i ke kanawai o ke Akua, aka ma ko'u kino i ke kanawai o ka hewa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.