La-mã 9
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Coptic New Testament (Bohairic)
1Tôi nói thật trong Đấng Christ, tôi không nói dối, lương tâm tôi làm chứng cho tôi bởi Đức Thánh Linh:
1ⲐⲘⲎⲒ ⲠⲈϮϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ϦⲈⲚⲠⲬⲢⲒⲤⲦⲞⲤ ⲚϮϪⲈⲘⲈⲐⲚⲞⲨϪ ⲀⲚ ⲈⲤⲈⲢⲘⲈⲐⲢⲈ ⲈⲢⲞⲒ ⲚⲈⲘⲎⲒ ⲚϪⲈⲦⲀⲤⲨⲚⲎⲆⲈⲤⲒⲤ ϦⲈⲚⲞⲨⲠⲚⲈⲨⲘⲀⲈϤⲞⲨⲀⲂ.
2tôi buồn bực lắm, lòng tôi hằng đau đớn.
2ϪⲈ ⲞⲨⲞⲚ ⲞⲨⲚⲒϢϮ ⲚⲘⲔⲀϨ ⲚϨⲎⲦ ⲚⲈⲘⲎ ⲒⲚⲈⲘ ⲞⲨϢⲈⲚϨⲎⲦ ⲘⲠⲀϤⲘⲞⲨⲚⲔ ϦⲈⲚⲠⲀϨⲎ Ⲧ.
3Bởi tôi ước ao có thể chính mình bị dứt bỏ, lìa khỏi Đấng Christ, vì anh em bà con tôi theo phần xác,
3ⲚⲀⲒⲦⲰⲂϨ ⲄⲀⲢ ⲀⲚⲞⲔ ⲈⲈⲢⲀⲚⲀⲐⲎⲘⲀ ⲈⲂⲞⲖ ϨⲀ ⲠⲬⲢⲒⲤⲦⲞⲤ ⲈϪⲈⲚ ⲚⲀⲤⲚⲎⲞⲨ ⲚⲀⲤⲨⲚⲄⲈⲚⲎⲤ ⲔⲀⲦⲀ ⲤⲀⲢⲜ
4tức là dân Y-sơ-ra-ên, là dân được những sự làm con nuôi, sự vinh hiển, lời giao ước, luật pháp, sự thờ phượng và lời hứa;
4ⲈⲦⲈ ⲚⲒⲤⲢⲀⲎⲖⲒⲦⲎⲤ ⲚⲈⲚⲎ ⲈⲦⲈ ⲐⲰⲞⲨ ⲦⲈ ϮⲘⲈⲦϢⲎⲢⲒ ⲚⲈⲘ ⲠⲒⲰⲞⲨ ⲚⲈⲘ ⲚⲒⲆⲒⲀⲐⲎⲔⲎ ⲚⲈⲘ ⲠⲒⲤⲈⲘⲚⲈ ⲚⲞⲘⲞⲤ ⲚⲈⲘ ⲠⲒϢⲈⲘϢⲒ ⲚⲈⲘ ⲚⲒⲰϢ.
5là dân sanh hạ bởi các tổ phụ, và theo phần xác, bởi dân ấy sanh ra Đấng Christ, là Đấng trên hết mọi sự, tức là Đức Chúa Trời đáng ngợi khen đời đời. A-men.
5ⲚⲎ ⲈⲦⲈ ⲚⲞⲨⲞⲨ ⲚⲈⲚⲒⲒⲞϮ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲐⲰⲞⲨ ⲞⲚ ⲀⲠⲬⲢⲒⲤⲦⲞⲤ ⲒⲈⲂⲞⲖ ⲚϦⲎⲦⲞⲨ ⲔⲀⲦⲀ ⲤⲀⲢⲜ ⲪⲎ ⲈⲦⲬⲎ ϨⲒϪⲈⲚ ⲞⲨⲞⲚ ⲚⲒⲂⲈⲚ ⲪⲚⲞⲨϮ ⲈⲦⲤⲘⲀⲢⲰⲞⲨⲦ ϢⲀ ⲈⲚⲈϨ ⲀⲘⲎⲚ.
6Aáy chẳng phải lời Đức Chúa Trời là vô ích. Vì những kẻ bởi Y-sơ-ra-ên sanh hạ, chẳng phải vì đó mà hết thảy đều là người Y-sơ-ra-ên.
6ⲠⲀⲒⲢⲎϮ ⲆⲈ ⲘⲠⲈ ⲠⲒⲤⲀϪⲒ ⲚⲦⲈⲪⲚⲞⲨϮ ϨⲈⲒ ⲈⲂⲞⲖ ⲞⲨ ⲄⲀⲢ ⲞⲨⲞⲚ ⲚⲒⲂⲈⲚ ⲀⲚ ⲈⲦⲈ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲠⲒⲤⲖ ⲚⲀⲒ ⲚⲈⲠⲒⲤⲖ.
7cũng không phải vì là dòng dõi của Aùp-ra-ham thì hết thảy đều là con cái người; nhưng có chép rằng: Aáy là bởi Y-sác mà ngươi sẽ có một dòng dõi gọi theo tên ngươi;
7ⲞⲨⲆⲈ ϪⲈ ϨⲀⲚϪⲢⲞϪ ⲚⲦⲈⲀⲂⲢⲀⲀⲘ ⲚⲈϨⲀⲚϢⲎⲢⲒ ⲦⲎⲢⲞⲨ ⲚⲈⲀⲖⲖⲀ ϦⲈⲚⲒⲤⲀⲀⲔ ⲈⲨⲈⲐⲀϨⲈⲘ ⲞⲨϪⲢⲞϪ ⲚⲀⲔ.
8nghĩa là chẳng phải con cái thuộc về xác thịt là con cái Đức Chúa Trời, nhưng con cái thuộc về lời hứa thì được kể là dòng dõi Aùp-ra-ham vậy.
8ⲈⲦⲈ ⲪⲀⲒ ⲠⲈ ϪⲈ ⲚⲒϢⲎⲢⲒ ⲚⲦⲈⲦⲤⲀⲢⲜ ⲀⲚ ⲚⲀⲒ ⲚⲈⲚⲒϢⲎⲢⲒ ⲚⲦⲈⲪⲚⲞⲨϮ ⲀⲖⲖⲀ ⲚⲒϢⲎⲢⲒ ⲚⲦⲈⲠⲒⲰϢ ⲈⲦⲞⲨⲚⲀⲞⲠⲞⲨ ⲈⲨϪⲢⲞϪ.
9Vả, lời nầy thật là một lời hứa: Cũng k” nầy ta sẽ lại đến, Sa-ra sẽ có một con trai.
9ⲠⲀⲒⲤⲀϪⲒ ⲄⲀⲢ ⲪⲀ ⲞⲨⲰϢ ⲠⲈ ϪⲈ ⲔⲀⲦⲀ ⲠⲀⲒⲤⲎⲞⲨ ⲪⲀⲒ ⲈⲒⲈⲒ ⲞⲨⲞϨ ⲈⲢⲈ ⲞⲨϢⲎⲢⲒ ϢⲰⲠⲒ ⲚⲤⲀⲢⲢⲀ.
10Nào những thế thôi, về phần Rê-be-ca, khi bà ấy bởi tổ phụ chúng ta là Y-sác mà có thai đôi cũng vậy.
10ⲞⲨ ⲘⲞⲚⲞⲚ ⲆⲈ ⲀⲖⲖⲀ ⲚⲈⲘ ⲦⲔⲈⲈⲢⲈⲂⲈⲔⲔⲀ ⲈⲀⲤϬⲒ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲞⲨϢⲀⲒⲢⲒ ⲚⲞⲨⲰⲦ ⲚⲦⲈⲒⲤⲀⲀⲔ ⲠⲈⲚⲒⲰⲦ.
11Vì, khi hai con chưa sanh ra, chưa làm điều chi lành hay dữ-hầu cho được giữ vững ý chỉ Đức Chúa Trời, là ý định sẵn bởi sự kén chọn tự do của Ngài, chẳng cứ việc làm, nhưng cứ Đấng kêu gọi-
11ⲈⲘⲠⲀⲚⲦⲞⲨⲘⲀⲤⲞⲨ ⲄⲀⲢ ⲞⲨⲆⲈ ⲘⲠⲀⲦⲞⲨⲒⲢⲒ ⲚⲞⲨϨⲰⲂ ⲈⲚⲀⲚⲈϤ ⲒⲈ ⲈϤϨⲰⲞⲨ ϨⲒⲚⲀ ϮⲘⲈⲦⲤⲰⲦⲠ ⲈⲦⲀ ⲪⲚⲞⲨϮ ⲐⲀϢⲤ ⲒⲤϪⲈⲚ ϢⲞⲢⲠ ⲚⲦⲈⲤϢⲰⲠⲒ ⲈⲤⲤⲘⲞⲚⲦ.
12thì có lời phán cho mẹ của hai con rằng: Đứa lớn sẽ làm tôi đứa nhỏ;
12ⲈⲚⲞⲨ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚϨⲀⲚϨⲂⲎⲞⲨⲒ ⲀⲚ ⲦⲈ ⲀⲖⲖⲀ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲠⲈⲦⲐⲰϨⲈⲘ ⲀⲨϪⲞⲤ ⲚⲀⲤ ϪⲈ ⲈⲢⲈ ⲠⲒⲚⲒϢϮ ⲈⲢⲂⲰⲔ ⲘⲠⲒⲔⲞⲨϪⲒ.
13như có chép rằng: Ta yêu Gia-cốp và ghét Ê-sau.
13ⲔⲀⲦⲀ ⲪⲢⲎϮ ⲈⲦⲤϦⲎⲞⲨⲦ ϪⲈ ⲒⲀⲔⲰⲂ ⲘⲈⲚ ⲀⲒⲘⲈⲚⲢⲒⲦϤ ⲎⲤⲀⲨ ⲆⲈ ⲀⲒⲘⲈⲤⲦⲰϤ.
14Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Có sự không công bình trong Đức Chúa Trời sao? Chẳng hề như vậy!
14ⲞⲨ ϪⲈ ⲠⲈⲦⲈⲚⲚⲀϪⲞϤ ⲘⲎ ⲞⲨⲞⲚ ⲞⲨⲘⲈⲦϬ ⲒⲚϪⲞⲚⲤ ϦⲀⲦⲈⲚ ⲪⲚⲞⲨϮ ⲚⲚⲈⲤϢⲰⲠⲒ.
15Vì Ngài phán cùng Môi-se rằng: Ta sẽ làm ơn cho kẻ ta làm ơn, ta sẽ thương xót kẻ ta thương xót.
15ϤϪⲰ ⲄⲀⲢ ⲘⲘⲞⲤ ⲘⲘⲰⲨⲤⲎⲤ ϪⲈ ϮⲚⲀⲚⲀⲒ ⲘⲪⲎ ⲈϮⲚⲀⲚⲀⲒ ⲚⲀϤ ⲞⲨⲞϨ ϮⲚⲀϢⲈⲚϨⲎ ⲦϦⲀ ⲪⲎ ⲈϮⲚⲀϢⲈⲚϨⲎⲦ ϦⲀⲢⲞϤ.
16Vậy điều đó chẳng phải bởi người nào ao ước hay người nào bôn ba mà được, bèn là bởi Đức Chúa Trời thương xót.
16ϨⲀⲢⲀ ⲞⲨⲚ ⲪⲀ ⲠⲈⲐⲞⲨⲰϢ ⲀⲚ ⲠⲈ ⲞⲨⲆⲈ ⲘⲪⲀ ⲠⲈⲦϬⲞϪⲒ ⲀⲚ ⲠⲈ ⲀⲖⲖⲀ ⲪⲀ ⲪⲚⲞⲨϮ ⲈⲐⲚⲀⲒ ⲠⲈ.
17Trong Kinh Thánh cũng có phán cùng Pha-ra-ôn rằng: Nầy là cớ vì sao ta đã dấy ngươi lên, ấy là để tỏ quyền phép ta ra trong ngươi, hầu cho danh ta được truyền ra khắp đất.
17ⲤϪⲰ ⲄⲀⲢ ⲘⲘⲞⲤ ⲚϪⲈϮⲄⲢⲀⲪⲎ ⲘⲪⲀⲢⲀⲰ ϪⲈ ⲈⲐⲂⲈ ⲪⲀⲒ ⲀⲒⲦⲞⲨⲚⲞⲤⲔ ϨⲒⲚⲀ ⲚⲦⲀⲞⲨⲰⲚϨ ⲚⲦⲀϪⲞⲘ ⲈⲂⲞⲖ ⲚϦⲢⲎⲒ ⲚϦⲎⲦⲔ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲤⲈⲪⲒⲢⲒ ⲈⲠⲀⲢⲀⲚ ϨⲒϪⲈⲚ ⲠⲔⲀϨⲒ ⲦⲎⲢϤ.
18Như vậy, Ngài muốn thương xót ai thì thương xót, và muốn làm cứng lòng ai thì làm.
18ϨⲀⲢⲀ ⲞⲨⲚ ⲠⲈⲦⲈϤⲞⲨⲀϢϤ ϢⲀϤⲚⲀⲒ ⲚⲀϤ ⲪⲎ ⲆⲈ ⲈⲦⲀϤⲞⲨⲀϢϤ ⲀⲚ ϢⲀϤⲈⲐⲢⲈϤⲈⲚϢⲰⲦ.
19Vậy thì ngươi sẽ hỏi ta rằng: Sao Ngài còn quở trách? Vì có ai chống lại ý muốn Ngài được chăng?...
19ⲬⲚⲀϪⲞⲤ ⲞⲨⲚ ⲚⲎⲒ ϪⲈ ⲈⲐⲂⲈⲞⲨ ϤϪⲈⲘ ⲀⲢⲒⲔⲒ ⲚⲒⲘ ⲄⲀⲢ ⲈϤϮ ⲈϦⲞⲨⲚ ⲈϨⲢⲈⲚ ⲠⲈϤⲤⲞϬ ⲚⲒ.
20Nhưng, hỡi người, ngươi là ai, mà dám cãi lại cùng Đức Chúa Trời? Có lẽ nào cái bình bằng đất sét lại nói với kẻ nắn nên mình rằng: Sao ngươi đã làm nên ta như vậy?
20ⲘⲈⲚⲞⲨⲚⲄⲈ ⲰⲪⲢⲰⲘⲒ ⲚⲐⲞⲔ ⲚⲒⲘ ⲚⲐⲞⲔ ⲪⲎ ⲈⲦⲈⲢⲞⲨⲰ ⲈϦⲞⲨⲚ ⲈϨⲢⲈⲚ ⲪⲚⲞⲨϮ ⲘⲎ ⲈⲢⲈϢ ⲠⲒⲘⲞⲚⲔ ϪⲞⲤ ⲘⲪⲎ ⲈⲦⲀϤⲘⲞⲚⲔϤ ϪⲈ ⲈⲐⲂⲈⲞⲨ ⲀⲔⲐⲀⲘⲒⲞⲒ ⲘⲠⲀⲒⲢⲎϮ.
21Người thợ gốm há chẳng có quyền trên đất sét, cùng trong một đống mà làm ra hạng bình để dùng việc sang trọng, lại hạng khác để dùng việc hèn hạ sao?
21ϢⲀⲚ ⲘⲘⲞⲚ ⲚⲦⲈⲠⲒⲔⲈⲢⲀⲘⲈⲨⲤ ⲘⲠⲈⲢϢⲒϢⲒ ⲘⲠⲈϤⲞⲘⲒ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲠⲀⲒⲞⲨⲰϢⲈⲘ ⲢⲰ ⲈⲐⲀⲘⲒⲞ ⲚⲞⲨⲤⲔⲈⲨⲞⲤ ⲞⲨⲀⲒ ⲘⲈⲚ ⲈⲠⲦⲀⲒⲞ ⲔⲈⲞⲨⲀⲒ ⲆⲈ ⲈⲨϢⲰϢ.
22Nếu Đức Chúa Trời muốn tỏ ra cơn thạnh nộ và làm cho biết quyền phép Ngài, đã lấy lòng khoan nhẫn lớn chịu những bình đáng giận sẵn cho sự hư mất,
22ⲒⲤϪⲈ ⲆⲈ ⲀϤⲞⲨⲰϢ ⲚϪⲈⲪⲚⲞⲨϮ ⲈϤⲞⲨⲰⲚϨ ⲘⲠⲈϤϪⲰⲚⲦ ⲈⲂⲞⲖ ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀⲘⲞⲚ ⲈⲦⲈϤϪⲞⲘ ⲀϤⲒⲚⲒ ϦⲈⲚⲞⲨⲚⲒϢϮ ⲘⲘⲈⲦⲢⲈϤⲰⲞⲨ ⲚϨⲎⲦ ⲚϨⲀⲚⲤⲔⲈⲨⲞⲤ ⲚⲦⲈⲠϪⲰⲚⲦ ⲈⲨⲤⲈⲂⲦⲰⲦ ⲈⲠⲦⲀⲔⲞ.
23để cũng làm cho biết sự giàu có của vinh hiển Ngài bởi những bình đáng thương xót mà Ngài đã định sẵn cho sự vinh hiển, thì còn nói chi được ư?
23ϨⲒⲚⲀ ⲚⲦⲈϤⲞⲨⲰⲚϨ ⲚϮⲘⲈⲦⲢⲀⲘⲀⲞ ⲚⲦⲈⲠⲈϤⲰⲞⲨ ⲈϨⲢⲎⲒ ⲈϪⲈⲚ ϨⲀⲚⲤⲔⲈⲨⲞⲤ ⲚⲚⲀⲒ ⲈⲦⲈ ⲚⲎ ⲚⲈⲈⲦⲀϤⲈⲢϢⲞⲢⲠ ⲚⲤⲈⲂⲦⲰⲦⲞⲨ ⲈⲨⲰⲞⲨ.
24Đó tôi nói về chúng ta, là kẻ Ngài đã gọi, chẳng những từ trong người Giu-đa, mà cũng từ trong dân ngoại nữa.
24ⲈⲦⲈ ⲀⲚⲞⲚ ⲠⲈ ϦⲀ ⲚⲎ ⲈⲦⲀϤⲐⲀϨⲘⲞⲨ ⲞⲨ ⲘⲞⲚⲞⲚ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲚⲒⲒⲞⲨⲆⲀⲒ ⲀⲖⲖⲀ ⲚⲈⲘ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲚⲒⲔⲈⲈⲐⲚⲞⲤ.
25Như Ngài phán trong sách Ô-sê rằng: Ta sẽ gọi kẻ chẳng phải dân ta là dân ta, Kẻ chẳng được yêu dấu là yêu dấu;
25ⲘⲪⲢⲎϮ ⲞⲚ ⲈⲦⲈϤϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ⲚⲰⲤⲒⲈ ϪⲈ ϮⲚⲀⲘⲞⲨϮ ⲈⲪⲎ ⲈⲦⲈ ⲠⲀⲖⲀⲞⲤ ⲀⲚ ⲠⲈ ϪⲈ ⲠⲀⲖⲀⲞⲤ ⲞⲨⲞϨ ⲐⲎ ⲈⲦⲈ ⲘⲠⲞⲨⲘⲈⲚⲢⲒⲦⲤ ϪⲈ ⲀⲨⲘⲈⲚⲢⲒⲦⲤ.
26Lại xảy ra trong nơi Ngài phán cùng họ rằng: Các ngươi chẳng phải là dân ta đâu, Cũng tại nơi đó họ sẽ được xưng là con của Đức Chúa Trời hằng sống.
26ⲞⲨⲞϨ ⲈⲤⲈϢⲰⲠⲒ ϦⲈⲚⲠⲒⲘⲀ ⲈⲦⲀⲨϪⲞⲤ ⲚⲰⲞⲨ ⲘⲘⲞϤ ϪⲈ ⲚⲐⲰⲦⲈⲚ ⲠⲀⲖⲀⲞⲤ ⲀⲚ ⲘⲠⲒⲘⲀ ⲈⲦⲈⲘⲘⲀⲨ ⲈⲨⲈⲘⲞⲨϮ ⲈⲢⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲚⲈⲚϢⲎ ⲢⲒ ⲘⲪⲚⲞⲨϮ ⲈⲦⲞⲚϦ.
27Còn Ê-sai nói về dân Y-sơ-ra-ên mà kêu lên rằng: Dầu số con cái Y-sơ-ra-ên như cát dưới biển, chỉ một phần sót lại sẽ được cứu mà thôi;
27ⲎⲤⲀⲎⲀⲤ ⲆⲈ ⲈϤⲰϢ ⲈⲂⲞⲖ ⲈϪⲈⲚ ⲠⲒⲤⲖ ϪⲈ ⲈϢⲰⲠ ⲈⲢⲈ ⲦⲎⲠⲒ ⲚⲦⲈⲚⲈⲚϢⲎⲢⲒ ⲘⲠⲒⲤⲖ ⲈⲤⲞⲒ ⲘⲪⲢⲎϮ ⲘⲠⲒϢⲰ ⲚⲦⲈⲪⲒⲞⲘ ⲠⲤⲰϪⲠ ⲈϤⲈⲚⲞϨⲈⲘ.
28vì Chúa sẽ làm ứng nghiệm lời Ngài cách trọn vẹn và vội vàng trên đất.
28ⲞⲨⲤⲀϪⲒ ⲄⲀⲢ ⲈϤϪⲰⲔ ⲘⲘⲞϤ ⲈⲂⲞⲖ ⲞⲨⲞϨ ⲈϤϢⲰⲦ ⲘⲘⲞϤ ⲈⲂⲞⲖ ⲪⲎ ⲈⲦⲈ ⲠϬⲞⲒⲤ ⲚⲀⲀⲒϤ ϨⲒϪⲈⲚ ⲠⲔⲀϨⲒ.
29Lại như Ê-sai đã nói tiên tri rằng: Nếu Chúa vạn quân chẳng để lại một cái mầm của dòng giống chúng ta, Thì chúng ta đã trở nên như thành Sô-đôm và giống như thành Gô-mô-rơ vậy.
29ⲞⲨⲞϨ ⲔⲀⲦⲀ ⲪⲢⲎϮ ⲞⲚ ⲈⲦⲀϤϪⲞⲤ ⲚϪⲈⲎⲤⲀⲎⲀⲤ ϪⲈ ⲈⲚⲈⲘⲠⲈ ⲠϬⲞⲒⲤ ⲤⲀⲂⲀⲰⲐ ⲤⲰϪⲠ ⲚⲞⲨϪⲢⲞϪ ⲚⲀⲚ ⲚⲀⲚⲚⲀⲈⲢ ⲘⲪⲢⲎϮ ⲚⲤⲞⲆⲞⲘⲀ ⲠⲈ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀⲚⲚⲀⲒⲚⲒ ⲚⲄⲞⲘⲞⲢⲢⲀ.
30Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Những dân ngoại chẳng tìm sự công bình, thì đã được sự công bình, nhưng là sự công bình đến bởi đức tin;
30ⲞⲨ ϪⲈ ⲠⲈⲦⲈⲚⲚⲀϪⲞϤ ϪⲈ ⲚⲒⲈⲐⲚⲞⲤ ⲈⲦⲈ ⲘⲠⲞⲨϬⲞϪⲒ ⲚⲤⲀϮⲘⲈⲐⲘⲎⲒ ⲀⲨⲦⲀϨⲈ ϮⲘⲈⲐⲘⲎ ⲒϮⲘⲈⲐⲘⲎⲒ ⲆⲈ ϮⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲪⲚⲀϨϮ.
31còn như dân Y-sơ-ra-ên tìm luật pháp của sự công bình, thì không đạt đến luật pháp ấy.
31ⲠⲒⲤⲖ ⲆⲈ ⲈϤϬⲞϪⲒ ⲚⲤⲀⲠⲒⲚⲞⲘⲞⲤ ⲚⲦⲈϮⲘⲈⲐⲘⲎⲒ ⲘⲠⲈϤⲪⲞϨ ⲈⲠⲒⲚⲞⲘⲞⲤ.
32Tại sao? Tại họ chẳng bởi đức tin mà tìm, nhưng bởi việc làm. Họ đã vấp phải hòn đá ngăn trở,
32ⲈⲐⲂⲈⲞⲨ ϪⲈ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲪⲚⲀϨϮ ⲀⲚ ⲠⲈ ⲀⲖⲖⲀ ϨⲰⲤ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚϨⲀⲚϨⲂⲎⲞⲨⲒ ⲀⲨϬⲒϬⲢⲞⲠ ⲈⲠⲒⲰⲚⲒ ⲚϬⲢⲞⲠ ⲔⲀⲦⲀ ⲪⲢⲎϮ ⲈⲦⲤϦⲎⲞⲨⲦ
33như có chép rằng: Nầy ta để tại Si-ôn một hòn đá ngăn trở, tức là hòn đá lớn làm cho vấp ngã; Hễ ai tin đến thì khỏi bị hổ thẹn.
33ϪⲈ ϨⲎⲠⲠⲈ ϮⲚⲀⲬⲰ ϦⲈⲚⲤⲒⲰⲚ ⲚⲞⲨⲰⲚⲒ ⲚϬⲢⲞⲠ ⲚⲈⲘ ⲞⲨⲠⲈⲦⲢⲀ ⲚⲤⲔⲀⲚⲆⲀⲖⲞⲚ ⲞⲨⲞϨ ⲪⲎ ⲈⲐⲚⲀϨϮ ⲈⲢⲞϤ ⲚⲚⲈϤϬⲒϢⲒⲠⲒ.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.